Tuesday, April 28, 2020

Hai năm sau ngày đất nước chia đôi, từ miền Bắc hoang tàn, tôi lặn lội tới vùng giới tuyến mong vượt thoát vào miền Nam tự do.

Lần tới gần sông Bến Hải, đêm tối âm u bờ Bắc, tôi đã nhìn thấy cầu Hiền Lương vì bờ Nam rực sáng ánh đèn. Trên cột cờ cao vút, bóng cờ vàng sọc đỏ lung linh. Giọng ca ngọt ngào từ loa treo vọng về miền Bắc:
"...sông Bến Hải là nơi chia cắt đôi đường...
hỡi ai... lạc lối... mau quay... về đây ...!"

Tôi đứng đó chơi vơi định hướng, đăm đăm nhìn cờ vàng bên kia bờ sông lịch sử, uống từng lời ca trong cơn đói khát, rồi bừng tỉnh, lao lên phía trước. Từ đâu đó, mấy cái nón cối xông ra. Tôi bị trói hai tay bằng sợi thừng oan nghiệt, theo nón cối về lại địa ngục trần gian.

Mười chín tuổi, lao tù đầy đọa, tôi đã mất mẹ, mất cha, bị qui là tư sản, xa vắng họ hàng vì chia rẽ giai cấp. Tôi mất Hà nội là nơi tôi sinh ra làm người Việt Nam. Không có tang cha khi cha gục xuống, không có tang mẹ khi mẹ xuôi tay, không hy vọng có đám cưới đời mình.
Bạo quyền cộng sản Việt Nam bắn giết hàng trăm ngàn người, bị qui là địa chủ. Nhiều trăm ngàn người bị tập trung lên rừng, để lại vợ con không nhà không đất. Thời gian làm ngưng nước mắt, oán than cũng vô ích, chỉ còn tiếng kêu vang vọng khắp miền: "Chúng tôi muốn sống!"

Hai mươi lăm năm sau (1981) tôi vượt biển, thoát tới Hong Kong. Bốn mươi tư năm từ lúc chào đời, tôi thành người tị nạn cộng sản.
Ngày tiếp kiến phái đoàn Mỹ xin đi định cư, một ông Mỹ dáng nghiêm trang, nghe tôi trả lời, đột nhiên hỏi "Anh có biết nói tiếng Pháp?". Tôi nhìn ông, giọng run run: "L'exilé partout est seul!" (Kẻ lưu đày nơi đâu cũng cô độc).
Ông gật đầu hiểu cả tiếng Tây, hiểu lòng tôi đau xót. Xưa tôi học trường Albert Sarraut, Hà Nội.
Đứng bên rào kẽm gai, sau dãy nhà tôn của trại tị nạn Hong Kong, một mình, suy tư thân phận. Tôi sẽ đến nơi xứ lạ là nước Mỹ xa xôi, tìm quê hương mới, chỉ trở về khi đất nước Việt Nam tự do, không còn cộng sản.
Đứa bé chừng 5, 6 tuổi, tung trái banh, toan bắt thì trượt chân trên sân trại. Tôi đã kịp giang tay đỡ cháu khỏi ngã thì người đàn bà chạy tới, đứng im, lặng lẽ nhìn tôi.
Tiếng trẻ thơ kêu "Má", tôi nhìn nàng... Sự thầm lặng và ánh mắt trao nhau là chân tình của người tị nạn Việt Nam nhẫn nhục, khổ đau, nói được nhiều hơn lời nói. Rồi những ngày sau đó, tâm sự, nỗi niềm, tôi đã cùng Mai kết thành bạn đường và bạn đời, đi Mỹ định cư.

Chồng Mai là người lính Cộng Hòa hiên ngang dưới lá cờ vàng ba sọc đỏ, quyết bảo vệ quê hương. Anh tử trận, mang thân đền nợ nước, để lại con thơ. Mai trở thành góa phụ, miền quê Đà Nẵng, cuốc đất trồng khoai, nuôi mẹ già con dại. Sau năm 1975, mất nước. Mẹ già khuất núi, con chậm lớn vì cháo loãng, bo bo thay cho sữa mẹ và cơm.
Một đêm mưa bão, Mai bị tên Việt cộng trưởng công an xã cưỡng hiếp, du kích xã canh gác quanh nhà. Mai phải sống vì con mới lên ba, mất cha còn mẹ. Người dân Đà Nẵng ra đi, đã mang theo vợ con người lính chiến tới Hong Kong năm 1981. Đứa con lên sáu không biết tiếng gọi "Ba"!
Tôi mang nặng tủi nhục, đọa đày triền miên từ đất Bắc đi tìm tự do. Mai gánh những thương đau, mất mát, cơ cực của miền Nam, bồng con đi tị nạn. Lấy dĩ vãng chia xẻ cùng nhau, chúng tôi sắp xếp lại hành trang cho bớt gánh đoạn trường, đi Mỹ.
Con đã có Má, có Ba. Má bồng con, Ba xách túi. Con có đồ chơi, cầm chiếc máy bay vẫy chào các chú, hai người lính chiến Quảng Nam đưa tiễn. Tôi nhìn con tự nhủ: "Ba sẽ dạy con tiếng "Cha", chỉ cho con hình người lính Cộng Hòa, ở bất cứ nơi đâu đều là Cha con đó!".
Mai đã nhất định không đi kinh tế mới. Tôi đã trốn công trường, vào tù chịu đựng, bây giờ dù bỏ lại quê hương nhưng còn Tổ quốc Việt Nam. Bốn ngàn năm lịch sử, thăng trầm, người dân nước Việt sẽ không trở thành Cộng sản.

Quê hương mới của chúng tôi là vùng đông bắc nước Mỹ. Căn apartment hai phòng, hai chiếc giường nệm, một chiếc bàn con, đã cho tôi ấn tượng đẹp những ngày đầu tới Mỹ.
Lúc tôi khôn lớn, không có chiếc giường làm nơi cư trú, vì đã thành vô sản. Rồi tôi hiểu, vô sản cũng vẫn còn giai cấp. Phải lên rừng, một miếng nylon bọc vài manh vải gọi là quần áo, thì mới thành "người vô sản chân chính"!
Nhìn con ngon giấc ngủ thần tiên, vợ chồng tôi thao thức, không phải lo âu mà thì thầm những dự định tương lai. 18 tháng welfare trợ cấp, đủ thời gian cho mình đi học tiếng Anh. Đọc dòng thư hội M&RS nhắc trả nửa tiền nợ vé máy bay sang Mỹ "Xin bạn trả dần 12 tháng, giúp cho người sau bạn định cư", theo ý Mai, ý nghĩ nhân hậu của người đàn bà làm mẹ, "mình trả ngay từ tháng thứ hai".
Việc đơn giản là tại sao người ta không khấu trừ vào trợ cấp, lại đòi riêng. Mai chỉ nhẹ nhàng "nợ thì mình trả, ở hiền sẽ gặp lành", nhưng tôi lại suy nghĩ mung lung. Đây là bước đầu thử thách, cái thước đo lòng người tị nạn. 72 đô tiền nợ một tháng, có thể không trả và quên đi. Một lần để lòng vẩn đục sẽ trở thành bất lương. Cha mẹ bất lương con cái sẽ chẳng nên người.

Một sáng mùa Xuân, "bé Nam" gọi Má, gọi Ba, chỉ bông hoa mầu vàng mầu đỏ đung đưa bên vườn hàng xóm, kêu lên "hoa tu-líp". Bà già người Mỹ đứng trên thềm, giơ tay vẫy vẫy. Mai đã nói "Thank you", ngọt ngào, mạnh dạn, tay chỉ trỏ, diễn tả được những gì muốn nói.
Bà Jenny hiểu chút ít về "chiến tranh Việt Nam" qua tivi, sách báo hồi bà còn dạy học. Bà đã thấy "Boat people", những thuyền nhân tị nạn, nhưng lần đầu bà thấy một gia đình người Việt đến vùng này, lại là hàng xóm nên bà có cảm tình. Đây là ứng nghiệm "Ở hiền gặp lành" hay là sự may mắn cho gia đình tôi? Nói thế nào thì cũng đúng vì vài nơi trên đất Mỹ vẫn còn kỳ thị chủng tộc.

Thời gian trôi đi nhưng hai tiếng "lần đầu" lặp lại: lần đầu ra nhà Bank, lần đầu tới Post Office. Có những lần đầu chưa biết, nhưng có hai lần đầu quan trọng: "bé Nam" đi học, chúng tôi xin được việc làm. Bà Jenny cùng chúng tôi đưa "cháu" tới trường, bà cho chiếc mũ baseball và đôi giầy sneaker trắng muốt, khen "Cháu cute." Vợ chồng nhìn nhau, không hiểu, lát nữa về tra tự điển.
"Từ nay chúng mình có Má, bé Nam có Bà...!" Mai thốt lên khi chúng tôi đồng lòng nhận "Má Nuôi". Bà Jenny thành "Má Jen". Chuyện xảy ra vào ngày Lễ Tạ Ơn (Thanksgiving), 17 năm về trước.

Sống một mình trong căn nhà rộng rãi, bà Jenny vốn là cô giáo nên rất yêu trẻ. Bà mời "cả nhà" sang ăn turkey.
Bé Nam lên bảy, đi học, hiểu nhiều về Thank-sgiving hơn Má và Ba. Ăn uống vui vẻ, vợ chồng tôi nói chuyện với bà, có lúc ngồi im lặng hơi lâu vì vốn tiếng Anh ít ỏi. Bỗng bé Nam kêu "Má...!", bà Jenny toan đứng dậy thì Mai buột miệng nói: "Má... let me do it!".
Nghe tiếng "Má" lỡ lời của Mai, tiếng Việt, vừa lạ, vừa thích, bà bâng khuâng giây lát.
Mai kể chuyện xưa, miền Đà Nẵng cuốc đất trồng khoai, nuôi mẹ già con dại... Tôi góp phần thông dịch, bớt thêm: Người Việt Nam coi việc chăm sóc cha mẹ già là bổn phận, dù chịu nhiều cơ cực cũng cố gắng đền ơn sinh thành, dưỡng dục.

Bà suy nghĩ mấy ngày, bỏ dự định chuyển về Florida, tỏ ý muốn nhận gia đình tôi làm Con, làm Cháu.
Chúng tôi dọn nhà sang ở chung với "Má Jen", điều này ít thấy trong các gia đình người Mỹ có con trưởng thành. Các con nhờ Má, nói được tiếng Anh. Cháu quấn quít bên Bà, xem chú chuột Mickey. Mùa đông buốt giá nhưng trong nhà nồng ấm tình người. Má vui tươi hơn trước, thích ăn bánh xèo và phở Việt Nam.

Mai vẫn cặm cụi hàng ngày, làm những chiếc ví tay của phụ nữ. Mấy người bạn Việt Nam đặt cho Mai biệt danh "Bà đầm hãng bóp" vì "giỏi việc, lại biết tiếng Anh," nhiệt tình giúp đỡ bà con.
Cũng như Má Jen, Mai không thích sa hoa, theo Má vào tiệm sách trong Mall nhiều hơn vào tiệm bán phấn son, make up. Việc từ thiện đã thành sở thích, Mai gửi 200 đôla, mỗi lần, giúp đồng bào bão lụt miền Trung, miền Bắc, vì lương tâm, đạo lý. Kẻ cầm quyền ăn chặn của dân, như đám cướp, có bao giờ được mãn kiếp yên thân. Đức Phật từ bi dạy Mai lòng độ lượng.
Tôi làm technician, ngành điện tử. Nhớ xưa, học sửa radio bị nghi làm gián điệp. Bộ công an Hà nội lấy công nông lãnh đạo, coi "điện tử" là CIA. Mười bẩy năm trong ngành điện tử, nay chắc tôi thành CIA ngoại hạng!

Bây giờ, ngồi trước máy computer, nối vào mạng Net, đọc Website tiếng Anh, tiếng Việt, thông tin thế giới bằng email, việc hãng, việc nhà, công tư hòa vào nhau từng ngày làm việc, tôi đã có cuộc sống an hòa, hạnh phúc, một gia đình thật sự yêu thương.
"Ngày mai, chúng mình đi New York thăm con".
Mai nắm tay tôi, hân hoan về ngày mai.
Ngày mai là tương lai của bé Nam ngày trước, giờ là một thanh niên cao 6 feet, đầy nghị lực bước vào đời. Xong đại học, Nam Nguyen trở thành chuyên viên tài chánh, làm việc trong văn phòng, tầng thứ 32 của một nhà "chọc trời" New York.
Ngày con ra trường là ngày vui trọn vẹn, ngày con nhận việc mới là niềm sung sướng của Má, của Ba, của Gia Đình tị nạn, mong ước từng ngày cho Con thành Người.*

Lâu lắm rồi, tôi mới có một đêm không ngủ để nhìn lại đời mình. Tháng chín, trời sang Thu se lạnh vùng đông bắc nước Mỹ. Tôi đã sống nơi đây 18 năm tị nạn, không thất vọng mà tin tưởng vào tương lai.
Người cộng sản muốn làm hung thần cai quản địa cầu, dựng lên Địa Ngục. Dựng được vài phần thì sụp đổ, sót lại từng mảnh vỡ điêu tàn. Hung thần đã chết.
Thoát kiếp lưu đày làm người tự do, tôi kính cẩn tri ân người phá ngục: người lính Cộng Hòa, giương cao lá cờ vàng ba sọc đỏ, chính nghĩa Quốc Gia. Việt Nam, từ tinh thần đến lãnh thổ.
Người lính chiến Cộng Hòa hiên ngang đi làm Lịch Sử. Không có Anh, tôi đã không có niềm tin để sống sót, đã thành nấm mộ hoang trên rừng xơ xác. 21 năm kiên cường giữ vững miền Nam, Anh đối mặt hung thần, cứu sống thêm hàng triệu người vô tội.
Người lính của miền Nam tự do tử trận. Anh để lại người Vợ hiền, cuốc đất trồng khoai, chúng vẫn không tha, chà đạp nhân phẩm. Tôi lê bước chân vô định, gặp Mai làm Bạn Đường, nhìn mắt con thơ thấy hình người lính chiến.
Anh đã để lại Con Thơ cho tôi được làm "Ba" mang tròn trách nhiệm. Con đã trưởng thành, mai này sẽ góp phần xây dựng lại Quê Hương. Tôi muốn níu lại thời gian để được thương vợ, thương con nhiều hơn nữa.

Đã quá nửa đêm về sáng. Nhìn Mai ngon giấc ngủ thần tiên như "bé Nam" ngày đầu tới Mỹ, tôi ngồi im lặng bên bàn viết, đợi chờ sớm mai để được nhìn bình minh bừng sáng Phương Đông, được nhìn Mai thức dậy, mỉm cười, âu yếm nhìn chồng.
Cuộc sống an vui. Ngót 20 năm rồi, không biết khóc, đêm nay tôi nhỏ từng dòng lệ, xúc động, bùi ngùi.
Tôi đang sống và đang viết Bài Tình Ca của Một Người Tị Nạn.

NGUYỄN VĂN LUẬN

Sunday, April 26, 2020

MỖI NGÀY MỘT CA KHÚC TƯỞNG NIỆM 30 THÁNG TƯ Một đêm thật dài...! - Nam Lộc

Hôm nay là ngày 26 tháng Tư, 2020. Tôi tiếp tục câu chuyện từ đoạn ông VõVV, người có nhã ý và trong một sự tình cờ đã đưa tôi vào phi trường Tân Sơn Nhất lúc 5 giờ chiều ngày 25 tháng Tư, 1975, 45 năm về trước.

Khi cái vẫy tay từ giã của ông Võ khuất trong màn nắng đang nhạt dần của một buổi chiều đầy những âu lo và phiền muộn. Tôi bỗng thấy mình như một kẻ lạc loài, cô đơn và yếu đuối. Giằng co giữa sự trở về nhà hay ở lại đây! Lúc thì đổ tội là vì nghe ông Võ “xúi dại”, khi thì nhận là do lỗi của mình vì đã không tự quyết. Nhưng thôi nghĩ gì thì nghĩ, thực tế là tính mạng mình đang treo leo trên biên giới phải chọn lựa, giữa tự do và tù ngục nếu Sài Gòn thất thủ, nhất là đối với vai trò của một phóng viên quân đội  

Bây giờ là 7 giờ tối, đèn cũng đã bật sáng trong khuôn viên DAO, tôi bắt đầu nhận rõ được nhiều khuôn mặt thân quen đang đứng, ngồi hay nằm dài để chờ chuyến bay di tản khỏi VN. Có kẻ thì ba hoa, chích chòe, có người thì im lặng thở dài! Tôi chợt tỉnh: À thì ra họ cũng như mình thôi, đang chạy trốn họa Cộng Sản sắp chụp xuống quê hương. Có khác chăng là họ có giấy tờ chính thức để được gọi tên lên các chuyến bay, còn mình thì không, thế nhưng điều đó đâu ai biết được? Tự tin như vậy, tôi ngẩng mặt bước vào đám đông “nhận diện bà con”. 

Nhóm đầu tiên là mấy tên nhạc trẻ thân quen gồm có Trung Hành của Mây Trắng, Quang Minh, tức Minh mập CBC, Minh “rè” của Keyhole và một vài người khác đã được ông Oliver một bầu show người Mỹ đưa vào DAO từ mấy ngày nay và đang chờ chuyến bay. Trung Hành cho biết, Trung Nghĩa của The Enterprise và vợ là violist Đoàn Thanh Tuyền đã đi từ ngày hôm qua. Kiềm điểm lại còn biết thêm Kim Anh, Uyên Ly của ban tam ca Ba Con Mèo cũng đã đi từ mấy hôm trước. Ông ca sĩ đầu đàn nhạc trẻ Jo Marcel thì đã rời Sài Gòn từ 19, 20 tháng Tư gì đó, cùng chuyến với tổng trưởng kinh tế Phạm Kim Ngọc, cùng gia đình bà thượng nghị sĩ “trăng sáng vườn chè” Pauline Văn Thơ, Kaxim thì ở lại vì có quốc tịch Tây, còn thì Tùng Giang, Tuấn Ngọc, Khánh Hà và gia đình Uptight nghe nói đã được George Esper (trưởng phòng hãng thông tấn AP ở VN) đưa vào và đang có mặt ở đây v..v.. và v..v... À thì ra, thảo nào cậu Tùng Giang nhìn rất là bình tĩnh lúc gặp tôi và anh Trầm Tử Thiêng ở Givral sáng nay.

Đảo sang phía bên kia, tôi thấy ông Đỗ Ngọc Yến mặt trầm ngâm, đầy âu lo đang thì thầm trao đổi với ông Đỗ Quý Toàn, cạnh đó là gia đình vợ con và túi sách, túi mang. Chợt có người vỗ vai, tôi ngoảnh lại thì ra đó là ông nhà báo kiêm thi sĩ Kiêm Thêm, ông KT tươi cười hỏi thăm rồi đưa tay chỉ về phía trước, gia đình anh Lê Quỳnh kìa, tôi nhìn qua và vẫy tay chào. Khi ở bên ngoài lúc ông Võ rủ tôi vào TSN, mình cứ nghĩ là còn quá sớm mà đi đâu? Thậm chí khi anh Văn Quang nói tôi vẫn chưa tin, đến lúc vào trong này mới biết mình là một trong những kẻ muộn màng! Ông Đỗ Ngọc Yến còn chia sẻ “tin nóng” là gia đình TT Thiệu và ĐT Khiêm cũng vừa được CIA đưa vào phi trường để đi Đài Bắc tối nay. Còn nhiều gia đình người quen khác nữa, nhưng tôi tò mò muốn đến nơi người ta đang sắp hàng để được gọi tên lên máy bay. 

Từ xa nhìn vào hàng người xếp theo thứ tự, lần lượt nghe đọc tên, rồi họ xướng lên “có mặt”, sau đó sách hành lý vào cân lượng rồi bước lên xe bus để được đưa đến thang phi cơ. Thật tình cờ tôi nhận ra người đọc tên là ông nhạc sĩ Đức Huy, còn người hành khách vừa trả lời “có mặt” lại là ông bạn kiến trúc sư Nguyễn Tường Quý cùng gia đình. Thấy không khí thân tình, tôi đánh bạo bước lại gần hơn và la lớn cho anh Quý nghe: Lên đường bình an nhe anh Quý. Ông quay lại, nhận ra tôi vẫy tay từ giã vội vàng. Trong khi đó Huy cũng nhận ra tôi nheo mắt cười. Và cũng vì hành động này mà một “biến cố lớn” đã xẩy ra trong cuộc đời lưu vong, viễn xứ của tôi!

8 giờ tối ngày 25 tháng Tư, 1975. Vừa đọc xong danh sách chuyến bay và hoàn tất việc di chuyển hành khách, Đức Huy bước ra ngoài tìm tôi và đưa ngay vào bên trong nơi Huy đang làm việc, toàn là các sĩ quan US Marines Corps vừa từ Mỹ bay sang, mặt còn đỏ hoe, để điều hành cuộc di tản khẩn cấp này, chỉ có Huy là người VN duy nhất. Mặc dù tôi và Huy gặp nhau hầu như mỗi ngày, hai đứa vẫn thay phiên dùng xe đi làm vài ngày mỗi tuần. Huy đưa tôi đến Quân Đoàn III ở Biên Hòa, sau đó chàng lái xe đến Bình Dương nơi Huy phục vụ tại tiều khu này. Cả hai chúng tôi đều là các quân nhân đang tại ngũ, vậy thì Huy làm gì ở đây mà giờ này còn đứng gọi tên người lên phi cơ? Tôi ngại ngùng không dám hỏi, nhưng giả vờ thân mật nói đùa: Tao đâu có biết mày làm cho CIA? Vì chỉ có nhân viên CIA thì giờ này mới dám đứng gọi tên và quyết định cho ai đi, ai ở!  Huy hì hì cười và tảng lờ hỏi tôi: mày có đói bụng không? tôi bảo: hơi hơi, nhưng mua thức ăn ở đâu? Huy không trả lơi, đứng dậy bước vào phía trong rồi đem ra cho tôi một cái Hamburger nóng hổi, thơm phức, gói trong giấy foil, cùng một lon Cola Cola lạnh buốt! Bụng đang đói, trời đang nóng, sực một miếng cái đã, chuyện đâu còn có đó!

Ăn xong tôi cám ơn Huy và hẹn lúc gia đình tôi đến nơi sẽ tái ngộ. Nhưng Huy kéo tôi lại và hỏi: Ăn gì nữa không?, tôi lắc đầu rồi bắt tay từ giã. Huy nói tiếp: Đâu có dễ thế, chàng ăn no, uống đã rồi, thì bây giờ phải làm việc chứ. Sau đó Huy dúi vào tay tôi một danh sách mới khoảng 30 gia đình và bắt tôi đọc tên để mời họ lên máy bay.

Đắn đo và lưỡng lự một hồi, Huy than mệt quá, tôi đành chiều theo ý Huy và bước ra ngoài, giọng nghiêm nghị mời mọi người có tên trong chuyến bay số..., hãy chuẩn bị xếp hàng. Mọi người nghe theo răm rắp. Tôi chợt cười thầm trong bụng: Hai tiếng đồng hồ trước còn là một tên “nhập cảnh lậu” vào DAO, hai giờ sau đã trở thành”thầy chú”! Đúng là một cuộc đổi đời! Tối hôm đó tôi làm việc suốt cả đêm, không ngủ, giúp cho Huy chợp mắt vì hắn đã thức trắng đêm hôm qua. Lúc rảnh rang hai thằng ngồi tâm sự thì mới biết là Huy đã được Bill Fraser (trưởng phái đoàn HK trong ban liên hiệp 4 bên), một fan trung thành của ban nhạc đưa cả gia đình vào TSN mấy ngày hôm nay và trong lúc chờ đợi, họ đã nhờ Huy đọc dùm tên người Việt cho đúng, có vậy thôi. Khi nào Huy đi thì họ lại nhờ người khác. và người khác đó, không ai, chính là tôi. Và biết đâu nhiều người cũng đã chụp trên đầu tôi cái nón CIA? Tuy nhiên tôi chẳng bận tâm, niềm an ủi mà tôi nhận được trong công việc này, là lời hứa của anh chàng thiếu tá Mỹ đen, mọi người gọi anh là Bob. Thấy tôi làm việc khá vất vả, Bob nói: Ráng giúp họ đi, khi nào gia đình vào đến DAO anh sẽ cho mọi người đi sớm kể cả tôi, mà khỏi cần phải sắp hàng xin manifest chuyến bay.

Đêm kéo thật dài, đủ mọi chuyện hỷ, nộ, ái, ố của những nhân vật được (hay có thể là “bị”) tôi đọc tên lên phi cơ, nhất là các sĩ quan cao cấp của Quân Đoàn III và Sư Đoàn 5 hoặc các chính khách mà chúng tôi biết mặt, quen tên. Có người e ngại, có người sợ hãi như đại úy Hùng ở Trung Đoàn 8, SĐ 5, nhìn thấy tôi ông định bỏ về, nhưng tôi gọi ông lại và trấn an: việc đi hay ở là không do tôi, ai có tên trong danh sách di tản cùng gia đình và được cấp giấy phép lên phi cơ thì họ có quyền đi. Tuy nhiên hầu hết khi bước qua mặt tôi, mọi người đều mỉm cười thân ái, mang một chút ân tình ở trong đó, đặc biệt là bà vợ và hai đứa con nhỏ của đại úy Hùng, bà gật đầu nhìn tôi và cười trong nước mắt. Những diễn biến đó đã làm cho tôi cảm thấy nhẹ người và quên đi bao nỗi căng thẳng, bàng hoàng của một ngày đầy biến động cùng một đêm dài nhất trong 30 năm cuộc đời.

Trong giây phút giằng co giữa đi và ở, giữa hạnh phúc và khổ đau đó, tôi bỗng nhớ đến Mẹ tôi ngày bồng bế lũ con thơ dại vượt biển vào Nam tìm tự do 21 năm về trước.
 
Cuộc di cư từ Bắc vào Nam, 1954

Và ngày hôm nay, 45 năm sau, ngồi viết lại đoạn hồi ký trên, tôi muốn cùng với quý vị và các bạn nghe lại nhạc phẩm “1954 Cha Bỏ Quê, 1975 Con Bỏ Nước” của nhạc sĩ Phạm Duy qua giọng hát Elvis Phương sau đây:


Tháng Tư lại về đem những ký ức u buồn đến với cộng đồng người Việt tỵ nạn của chúng ta. Năm nay là lần thứ 45 tưởng niệm ngày miền Nam VN rơi vào tay Cộng Sản, và cũng là một tháng Tư buồn thảm nhất sau tháng Tư 1975. Không khí của đại dịch Vũ Hán bao phủ một mầu tang trên toàn thế giới. Với những biện pháp giới hạn hoạt động khiến cho năm nay dù có muốn, chúng ta cũng không thể tổ chức tụ họp đông đảo để làm lễ tưởng niệm ngày quốc hận 30 tháng Tư như những năm trước đây.
Trong hoàn cảnh đó, và để giúp quý vị nguôi ngoai niềm nhớ về quê hương, đất nước và ôn lại những kỷ niệm đã trải qua, đồng thời để giới thiệu bộ DVD “Những Người Lính Bị Bỏ Rơi”, kể từ hôm nay cho đến 30 tháng Tư, 2020, chúng tôi xin mạn phép sưu tầm và chia sẻ cùng quý vị một số sáng tác của cá nhân chúng tôi cùng các nhạc sĩ khác, về biến cố lịch sử ghi dấu ngày VN rơi vào tay Cộng Sản khiến cho hàng triệu người phải lần lượt bỏ nứơc ra đi tìm tự do. Kính mời quý vị thưởng thức và giúp phổ biến đến thân hữu của mình.
https://www.sbtn.tv/mot-thang-tu-buon-tham-cua-45-nam-vien-xu-nam-loc/

Saturday, April 25, 2020

Năm quốc gia sẽ phục hồi nhanh nhất sau đại dịch Covid-19 - BBC Tiếng Việt

Đại dịch Covid-19 đã gây ra sự bất ổn chưa từng thấy đối với nền kinh tế toàn cầu, với việc các nước trên thế giới phải gồng sức chống lại tình trạng truyền nhiễm lan tràn, thực hiện các chính sách giãn cách xã hội trên diện rộng và cố gắng can thiệp tài chính từ rất sớm nhằm bình ổn thị trường.


Tuy việc tìm cách khống chế cuộc khủng hoảng y tế tức thời là điều có ý nghĩa sống còn và cần thiết để có thể ổn định kinh tế, nhưng các chuyên gia nay đã bắt đầu đánh giá bức tranh phục hồi khi virus được khống chế và những quốc gia nào sẽ trở lại đà phát triển tốt nhất.
Để hiểu rõ hơn vấn đề, chúng tôi đã xem xét Chỉ số Khả năng Phục hồi Toàn cầu năm 2019 do hãng bảo hiểm FM Global đưa ra, theo đó xếp hạng khả năng phục hồi của môi trường kinh doanh trên 130 quốc gia, dựa trên các yếu tố như ổn định chính trị, quản trị doanh nghiệp, mức độ rủi ro của môi trường và nguồn cung ứng, và yếu tố minh bạch.
Kết hợp các bảng xếp hạng này với cách phản ứng ban đầu của mỗi quốc gia đối với đại dịch, chúng tôi xác định được các quốc gia có nhiều khả năng duy trì được sự ổn định và khả năng phục hồi trở lại nhanh chóng sau cuộc khủng hoảng này.
Chúng tôi đã nói chuyện với cư dân và các chuyên gia ở những nước này để tìm hiểu cách họ thích nghi với tình thế hiện thời và những mong đợi của họ trong thời gian sắp tới.

Các gói hỗ trợ tài chính của chính phủ Đan Mạch đang được ca ngợi như một mô hình đáng học tập cho các nước khác trên thế giới

Đan Mạch

Đứng thứ hai trong bảng xếp hạng, Đan Mạch đạt điểm cao nhờ chủ động được chuỗi cung ứng, và có mức độ tham nhũng thấp.

Nước này cũng đã hành động nhanh chóng khi ban hành các biện pháp giãn cách xã hội trước sự lây lan của virus.
Đan Mạch tuyên bố đóng cửa trường học và các doanh nghiệp tư nhân không thiết yếu vào ngày 11/3, và không cho công dân nước ngoài nhập cảnh kể từ 14/3. Đan Mạch có ít ca dương tính với Covid-19. Các động thái này đã cho thấy tính hiệu quả cao.
"Bệnh cúm theo mùa giảm 70% so với năm ngoái, đó là chỉ dấu tốt về tác dụng của các biện pháp mà chính phủ áp dụng," Rasmus Aarup Christiansen, thành viên điều hành của hãng Pissup Tours có trụ sở tại Copenhagen, nói. "Lúc đầu thì tôi hoài nghi, nhưng khi chứng kiến việc hầu hết các quốc gia khác đã thực hiện các bước tương tự [như phong tỏa hoạt động và đóng cửa biên giới] ngay sau Đan Mạch, thì tôi thấy có vẻ như chính phủ đã làm đúng."
Văn hóa Đan Mạch, theo đó người dân có xu hướng tin tưởng vào chính quyền và sẵn sàng sát cánh vì một mục đích chung, cũng có tác động đến hiệu quả của các biện pháp chống dịch.
"Từ 'samfundssind' (trong tiếng Đan Mạch có nghĩa là 'ý thức xã hội', hay 'bổn phận dân sự') là một từ mới trở nên thông dụng ở Đan Mạch, trên cả phương tiện truyền thông báo đài và mạng xã hội. Hầu hết mọi người đều cảm thấy về mặt đạo đức là mỗi người cần có trách nhiệm hy sinh những nhu cầu cá nhân vì sức khỏe cộng đồng," Aarup Christiansen nói.
"Không ai muốn bị chỉ đích danh là kẻ gây nguy hiểm cho sự sống của người cao niên chỉ vì khăng khăng không chịu từ bỏ những thói quen xa xỉ thường ngày của mình."

 Đan Mạch đã nhanh chóng hành động với việc quyết định áp dụng các biện pháp giãn cách xã hội 
 
Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là Đan Mạch không tồn tại những thách thức.
Aarup Christiansen đã tận mắt chứng kiến doanh số hoạt động du lịch của công ty ông giảm mạnh.
Trong lúc đánh giá cao các gói hỗ trợ tài chính của chính phủ, được công bố vào ngày 14/3 (trong đó bao gồm cả việc hỗ trợ một phần chi phí trả lương nhân viên), nhưng ông thấy các quy định và hướng dẫn vẫn chưa đầy đủ, dẫn đến tình trạng bấp bênh và nhiều nhân viên mất việc làm.
Các biện pháp, như trả 90% tiền lương cho các nhân công làm việc theo giờ và 75% lương cho những người được hưởng lương tháng bị ảnh hưởng bởi đại dịch, đang được ca ngợi như một mô hình đáng học tập đối với các nước khác trên thế giới. Về cơ bản đây là hình thức "đóng băng" nền kinh tế cho tới khi bão tố lắng xuống.
Tuy nhiên, cái giá phải trả cho mô hình này không hề rẻ; các biện pháp đó được trông đợi là sẽ ngốn hết khoảng 13% tổng thu nhập quốc gia (GDP).
Mô hình này còn có ý nghĩa ở chỗ, đây là một cuộc khủng hoảng toàn cầu, và không nghi ngờ gì, khả năng phục hồi của Đan Mạch chắc chắn sẽ phụ thuộc vào cách mà phần còn lại của thế giới thích nghi và mở cửa giao thương ra sao.
"Đan Mạch có thể được lợi thế tương đối bằng cách tránh được một số hậu quả nghiêm trọng hơn," Aarup Christiansen cho biết.
Trên thực tế, nước này đã bàn về việc nới lỏng một số hạn chế trước lễ Phục sinh dựa trên kết quả kiềm chế dịch tính đến thời điểm đầu tháng Tư, theo tường thuật của Bloomberg.
"Việc lĩnh vực dược phẩm của Đan Mạch phát triển tốt có thể là một lợi thế," Aarup Christiansen nói. "Tuy nhiên, tôi sẽ không thấy vẻ vang gì nếu kinh tế Đan Mạch tốt hơn nhờ vào việc các quốc gia khác còn đang phải chịu đựng khó khăn."

Singapore

Singapore đạt chỉ số xếp hạng cao do có nền kinh tế mạnh, rủi ro chính trị thấp, cơ sở hạ tầng tốt và mức độ tham nhũng thấp trong cuộc khảo sát, khiến nước này lên vị trí thứ 21 trong bảng khả năng phục hồi tổng thể.
Singapore cũng hành động nhanh chóng trong việc kiềm chế virus và đã đạt được một trong những đường đồ thị diễn biến đại dịch phẳng nhất.

Singapore đã kiểm soát để giữ được con số các ca nhiễm biện ở mức tương đối thấp và đạt được một trong những đường đồ thị diễn biến đại dịch phẳng nhất 
 
"Chúng tôi hoàn toàn tin tưởng vào chính phủ của mình, vốn tương đối minh bạch về mọi đường đi nước bước nhằm chống lại bệnh dịch này," cư dân Constance Tan, người làm việc cho nền tảng phân tích dữ liệu Konigle, nói. "Nguyên tắc chung là chính phủ đề ra quy định gì thì chúng tôi tuân thủ quy định đó."
Nói vậy nhưng vẫn có những người phớt lờ nguyên tắc, và Singapore đã tịch thu hộ chiếu, thẻ lao động của những người vi phạm, theo tường thuật hôm 21/3 của kênh thời sự Channel News Asia.
"Nói chung, chúng tôi đồng lòng cùng nhau và chúng tôi không cần phải lo lắng về tình trạng bất ổn xã hội, người chết trên đường phố hoặc kinh tế xáo trộn," Tan nói.
Là một nước nhỏ, Singapore phụ thuộc vào sự phục hồi của phần còn lại của thế giới để có thể trở lại đà phát triển thành công nhất, nhưng người dân nơi đây thường tin vào sức mạnh tương lai của nước mình.
"Là một người dân, giống như mọi nơi khác, tôi nghĩ rằng việc sống sót qua đại dịch này sẽ khiến tất cả chúng ta trở nên kiên cường hơn," ông Justin Fong nói. "Một điều chắc chắn là cần phải áp dụng công nghệ để mang lại hiệu quả tốt cho người dân Singapore."
Nhiều doanh nghiệp như công ty Konigle đã triển khai thực hiện các chính sách làm việc tại nhà một cách nhanh chóng, và chính phủ đã vận hành ứng dụng Trace Together để giúp theo dõi virus, một ứng dụng được nhiều người dân tải xuống dùng.

Hoa Kỳ

Để khảo sát được các vùng địa lý rộng lớn của Hoa Kỳ, quốc gia này đã được thành các khu vực miền Tây, miền Trung và miền Đông, nhưng nói chung, Hoa Kỳ đều có xếp hạng tốt (lần lượt là 22, 9 và 11) cho môi trường kinh doanh rủi ro thấp và chuỗi cung ứng mạnh.

Thành phố New York hiện là tâm dịch ở Mỹ 
  Việc làm sao để kiềm chế virus lây lan là thách thức ở các siêu đô thị như New York, và tỷ lệ thất nghiệp đã tăng lên mức lịch sử, chủ yếu là do tác động của lệnh phong tỏa bắt buộc được áp dụng đối với hơn một nửa các tiểu bang.
Lệnh phong toả ảnh hưởng đặc biệt nghiêm trọng đối với những người làm việc trong ngành dịch vụ nhà hàng, ngành bán lẻ, cũng như các doanh nghiệp phải dựa vào lượng khách thực sự bước chân vào cửa hàng.
Nhưng chính phủ Hoa Kỳ cũng hành động nhanh chóng với việc thông qua các biện pháp kích thích để ổn định nền kinh tế, và áp dụng chính sách giãn cách xã hội ở nhiều nơi trong cả nước, điều tỏ ra đã có tác dụng làm giảm lây lan của virus, cho phép phục hồi kinh tế nhanh hơn.
Các tổ chức tài chính như Goldman Sachs và Morgan Stanley dự đoán là sẽ xảy ra một cuộc suy thoái và phục hồi hình chữ V, với những tác động tiêu cực tức thời lớn chưa từng thấy (chúng ta đã thấy đáy của chữ V khủng khiếp thế nào trong những ngày qua), nhưng sự phục hồi sẽ tương đối nhanh trong các quý cuối năm.
Các chuyên gia tư vấn như McKinsey thì có một cái nhìn thận trọng hơn, nhưng vẫn đưa ra quan điểm lạc quan về sự phục hồi dựa trên việc thực hiện thành công các biện pháp y tế công - như phong tỏa tại chỗ - và các chính sách can thiệp như gói kích thích 2000 tỷ đô la đã được công bố, mà có thể là sẽ còn có các biện pháp, chính sách khác nữa được đưa ra trong các bước tiếp theo.
Mỹ có vị trị rất quan trọng đối với nền kinh tế chung, chiếm gần một phần tư GDP thế giới. Sự phục hồi của nền kinh tế toàn cầu phụ thuộc rất nhiều vào đường đi nước bước của Mỹ.
"Nói chung, so với các nước khác trên thế giới thì nền kinh tế Hoa Kỳ có vị trí tốt hơn để phục hồi sau những cú sốc lớn và những thay đổi dài hạn. Dân số trung bình trẻ hơn và dễ huy động hơn nhiều so với các phần còn lại của thế giới, các hạn chế đối với thị trường lao động thì thường là nhẹ nhàng hơn, cho nên nước Mỹ có thể dễ dàng tái phân bổ nhân lực," Eric Sims, giáo sư kinh tế tại Đại học Notre Dame, nói.
"Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ và Ngân hàng Trung ương Anh Quốc (cả hai định chế này đều chưa đưa ra chính sách áp dụng mức lãi suất âm) có tiềm lực tài chính hùng hậu hơn trong việc hỗ trợ tiền tệ so với các ngân hàng trung ương khác trên thế giới, chẳng hạn như Ngân hàng Trung ương Châu Âu ECB hoặc Ngân hàng Trung ương Nhật Bản."

Các biện pháp giãn cách xã hội ở một số thành phố của Mỹ như Seattle dường như đang giúp làm phẳng đường đồ thị diễn biến dịch 
 
Để tăng cường hơn nữa sức mạnh phục hồi của Hoa Kỳ, chính quyền liên bang đã đề xuất chia cả nước thành các khu vực khác nhau, theo đó các vùng bị ảnh hưởng ít hơn bởi đại dịch sẽ được phép hoạt động làm ăn như lúc bình thường.
"Tôi nghĩ rằng những biện pháp này có thể áp dụng lâu dài để cuối cùng sẽ tạo điều kiện cho việc phục hồi kinh tế mạnh mẽ," Peter C Earle, chuyên viên tại Viện Nghiên cứu Kinh tế Hoa Kỳ, một tổ chức nghiên cứu tư vấn phi lợi nhuận, nói. "Chúng tôi muốn có tiền, hàng hóa, dịch vụ, lao động và muốn được thoải mái tự do đi lại, không chỉ trong nước mà cả quốc tế nữa."
Sự thiếu hụt lĩnh vực chăm sóc sức khỏe phổ quát tại Hoa Kỳ là điều bị chỉ trích về năng lực xử lý khủng hoảng của chính quyền, và là một vấn đề cần phải được xem xét đến khi nguòiw ta cân nhắc tới khả năng phục hồi trong tương lai.
"Tôi nghĩ cuối cùng thế giới có thể bật dậy mạnh mẽ hơn sau đại dịch này, và tôi tin rằng Hoa Kỳ cũng vậy. Nhưng tất cả phụ thuộc vào những bài học kinh nghiệm mà chúng ta rút ra được," ông Michael Merrill, kinh tế gia và là sử gia về lao động tại Trường Quản trị Kinh doanh và Quan hệ Lao động Rutgers, nói.
"Chúng ta sẽ phải đầu tư vào các hình thức mới của lĩnh vực y tế công, tạo ra các hình thức bảo vệ xã hội bền vững và khả năng ứng phó tốt của các cơ quan này nếu chúng ta quay trở lại đời sống xã hội với các hoạt động thương mại dày đặc, liên kết đan xen mật thiết với nhau như chúng ta đã từng như thế chỉ mới một tháng trước đây."

Rwanda

Chúng tôi tin rằng chính phủ Rwandan có khả năng sẽ xử lý tình huống tốt hơn nhiều so với chính phủ ở nhiều nước khác.
Do những cải thiện gần đây trong lĩnh vực quản trị doanh nghiệp, Rwanda đã đạt được một số bước nhảy vọt cao nhất trong chỉ số xếp hạng trong những năm gần đây.
Nước này thăng 35 điểm, lên thứ hạng hiện tại với vị trí là quốc gia thứ 77 có nền kinh tế có sức bật tốt nhất thế giới (và xếp thứ tư ở châu Phi).
Quan trọng nhất, nền kinh tế này có vẻ đặc biệt thuận lợi để thoát khỏi đại dịch Covid-19 khi Rwanda đã ngăn chặn thành công Ebola bên ngoài biên giới khi dịch này bùng phát ngay tại nước láng giềng là Cộng hòa Dân chủ Congo vào năm 2019.
Với sự kết hợp giữa hệ thống chăm sóc sức khỏe phổ quát, dùng thiết bị bay tự động (drone) để cung cấp đồ dùng y tế, và kiểm tra thân nhiệt tại các cửa khẩu biên giới, Rwanda được trang bị tốt để duy trì sự ổn định trong suốt cuộc khủng hoảng, đặc biệt là khi so sánh với các quốc gia khác trong khu vực.
"Rất nhiều sinh viên nước ngoài như tôi ở lại vì chúng tôi tin tưởng rằng chính phủ Rwandan sẽ xử lý tình huống tốt hơn ở nước chúng tôi," Garnett Achieng, người Kenya, phụ trách nội dung kỹ thuật số cho Baobab Consulting và sinh viên tại Đại học Lãnh đạo Châu Phi, hiện sống ở Kigali, cho biết.
"Trong số các sinh viên châu Phi nước ngoài, điều phải suy nghĩ duy nhất là lo lắng cho gia đình chúng tôi ở quê nhà không được trong tình trạng an toàn tương tự như chúng tôi ở Rwanda."

Rwanda đã có kinh nghiệm trong các cuộc khủng hoảng y tế tương tự, và đã quản lý ngăn chặn thành công Ebola ngoài biên giới đất nước vào năm 2019 
 
Rwanda là quốc gia đầu tiên ở Hạ Sahara, châu Phi, áp dụng phong tỏa hoàn toàn, và đã phân phối thực phẩm miễn phí đến tận cửa cho người dân ở những vùng quê xa xôi dễ bị tổn thương nhất.
Mặc dù du lịch dự kiến sẽ bị ảnh hưởng nặng nề vì Rwanda là một điểm đến phổ biến cho nhiều hội nghị và triển lãm quốc tế, nhưng Achieng hy vọng rằng đất nước này sẽ có tương đối ít tổn thất vì virus, khiến cho họ có đà tốt để phục hồi nhanh chóng.

New Zealand

Xếp thứ 12 trong số các nền kinh tế có sức bật tốt nhất, New Zealand đạt điểm đặc biệt cao trong lĩnh vực quản trị doanh nghiệp và chuỗi cung ứng.
Quốc gia này cũng đã điều chỉnh nhanh chóng để ngăn chặn sự lây lan của virus bằng cách đóng cửa biên giới với khách du lịch quốc tế vào ngày 19/3 và áp lệnh đóng cửa các hoạt động kinh doanh không thiết yếu vào ngày 25/3.
"Là đảo quốc, New Zealand dễ dàng hơn trong việc kiểm soát biên giới - nguồn lây nhiễm virus chính. Vì vậy, việc đóng cửa biên giới hiệu quả có ý nghĩa quan trọng," giáo sư Shamubeel Eaqub, kinh tế gia tại công ty tư vấn Sense Partners, cho biết. "So với các nước khác thì phản ứng ở New Zealand quyết liệt và dứt khoát."
Theo tường thuật của báo Guardian thì các biện pháp này đã đem lại kết quả xứng đáng, vì một số nhà dịch tễ học thấy rằng New Zealand có khả năng trở thành một trong số ít các quốc gia còn lại có thể coi là "bình thường", loại bỏ được tình trạng lây nhiễm bệnh nếu các biện cứng rắn vẫn được áp dụng thêm vài tuần nữa trong tháng Tư.
Với du lịch và xuất khẩu là hai ngành trọng yếu của nền kinh tế, New Zealand sẽ phải đối mặt với các thử thách kinh tế trong thời gian tới, nhưng điều này không nhất thiết là chuyện xấu.
"Trong giai đoạn cách ly, chúng tôi sẽ có thời gian để điều chỉnh lại," ông Ron Bull, cư dân Dunedin, giám đốc phát triển chương trình giảng dạy tại Đại học Bách khoa Otago, nói.
"Chúng tôi đã bắt đầu cân nhắc về tác động của những du khách đi cắm trại và du lịch ba lô đối với môi trường, và điều này cho chúng tôi thời gian để cân nhắc những gì quan trọng đối với làn sóng đô la đến từ du lịch."



Việc New Zealand hành động quyết liệt, đóng cửa biên giới và phong tỏa đất nước khiến nơi đây trở nên an toàn để phục hồi kinh tế ổn định
Nhìn chung, nước này có vị thế tốt để phục hồi ổn định, với mức nợ chính phủ thấp và khả năng áp dụng việc nới lỏng chính sách tiền tệ để giữ lãi suất thấp.
"Chúng tôi có ít ràng buộc hơn trong việc phải làm giảm nhẹ tác động của việc đối phó với [đại dịch] và nâng khả năng phục hồi," Eaqub nói. "Quan trọng nhất, New Zealand vẫn là một quốc gia có độ tin cậy tương đối cao. Đây sẽ là nền tảng vững chắc để phục hồi sau cú sốc y tế và kinh tế lớn nhất trong nhiều thế hệ qua."
Bull đồng ý rằng đất nước có khả năng hồi phục mạnh mẽ.
"Giống như một gia đình sống cùng nhà, bạn phải tìm hiểu nhau," ông nói. "Đây là khoảng thời gian để ngồi xuống như một gia đình New Zealand, bàn bạc xem chúng tôi muốn trở thành đất nước như thế nào, và đưa ra một số quyết định để làm cho chúng tôi mạnh mẽ hơn và tốt đẹp hơn."
Bài tiếng Anh đã đăng trên BBC Travel.

MỖI NGÀY MỘT CA KHÚC TƯỞNG NIỆM 30 THÁNG TƯ - Nam Lộc

MỖI NGÀY MỘT CA KHÚC
TƯỞNG NIỆM 30 THÁNG TƯ
Hôm nay là ngày 25 tháng Tư, 2020. Xin mạn phép chia sẻ cùng quý vị và các bạn một chút tâm sự của ngày này 45 năm về trước. và cũng là ngày mà tôi đã bắt đầu bước vào một cuộc đổi đời đầy những cay đăng, xót xa cho thân phận của một người tỵ nạn.

Ngày hôm qua 24 tháng Tư, 1975, lệnh cấm trại 100%, ngồi viết phóng sự và trực suốt đêm tại phòng Báo Chí Quân Đoàn III ở Biên Hòa. Sáng nay về Sài Gòn đem giao một số bài viết cho nhật báo Tiền Tuyến ở Cục Tâm Lý Chiến. Tình hình đất nước đang vô cùng căng thẳng, nhất là sau khi tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức và các tỉnh miền Trung cho đến một số ở miền Nam gần Sài Gòn cũng đang lần lượt lọt vào tay CS Hà Nội và quân Giải Phóng miền Nam! Vào lúc này thì người Mỹ đang ráo riết di tản các nhân viên của họ theo kế hoạch của Hoa Thịnh Đốn, trong số đó có gia đình tôi, vì cô em gái làm việc cho DAO. Cô đã đưa cả bố mẹ cùng hầu hết anh chị em (ngoại trừ tôi) vào nơi cô làm việc để được người Mỹ âm thầm đưa đến Tân Sơn Nhất trên những chuyến xe bus mầu vàng, chạy liên tục như đàn bướm trong thành phố đầy hoang mang và hoảng loạn, hoảng loạn như chính tâm trạng của tôi và cả chắc cũng tương tự như của nhiều người lúc bấy giờ!
 Sài Gòn, những ngày cuối tháng Tư, 1975
 
Từ tòa soạn Tiền Tuyến, tôi ghé ngang báo Diều Hâu thăm thiếu tá Phạm Huấn, và đại úy Hà Huyền Chi là những người anh thân thương đã đỡ đầu chúng tôi trong các buổi Đại Hội Nhạc Trẻ hàng năm để gây quỹ giúp Cô Nhi, Quả Phụ Tử Sĩ. Gặp đại úy Lê Cự Phách, tức nhà văn Du Tử Lê ở báo Tiền Phong, biết tôi thích đọc thơ anh, mỗi lần về anh lại cho tôi một quyển. Trước khi rời nơi đây, tôi ghé qua bên đài phát thanh quân đội thăm trung tá Nguyễn Quang Tuyến tức nhà văn Văn Quang, mà ông đang làm quản đốc. Ông Văn Quang vừa họp xong trong phòng bước ra ngoài, vui vẻ chào đón và hỏi thăm tôi về tình hình ở quân đoàn. Tôi tường trình qua loa rồi bước ngay vào mục đích riêng của mình là xin ông một lời cố vấn rằng, nếu có cơ hội ra khỏi VN thì tôi có nên đi hay không? Tôi nhớ mãi câu trả lời gọn gàng của ông: Đi được thì cứ đi, các “ông lớn” cũng chuẩn bị cả rồi! Câu nói của ông làm tôi thêm hoang mang và suy nghĩ!
Tôi nắm tay ông từ giã, dự định sẽ về nhà ngủ một giấc thật dài để bù lại đêm qua và cũng để quên đi những xao xuyến, giằng co ở trong lòng! Nhưng chợt thấy đói nên ghé ngang Đêm Mầu Hồng rủ Tùng Giang và Lệ Thanh ghé quán Bà Cả “Đọi” ăn trưa. Sau đó cả ba đi bộ đến trụ sở quốc hội gặp chị Phúc, người chị cả của gia đình, đang làm việc tại đây, cũng để thăm dò tình hình và nhân tiện nhờ chị tái gia hạn dùm tôi tấm thẻ báo chí để dự thính ở quốc hội (đến giờ này tôi vẫn còn lo những sinh hoạt bình thường)! Chị Phúc nói với chúng tôi, các dân biểu cũng chia làm hai nhóm, người lo tìm đường ra đi, kẻ thì chuẩn bị tham chánh, hoăc đảm nhận các chức vụ quan trọng trong chính quyền mới! Tôi hỏi chị về chuyện ra đi, chị cũng trả lời tương tự như anh Văn Quang: Đi được thì cứ đi, nhưng cậu Lộc coi chừng đừng để trở thành người đào ngũ! Câu nói của chị càng làm tôi thêm hoang mang và bối rối!
Bước qua bên đường, ghé Givral uống cà phê, gặp ông anh Trầm Tử Thiêng, người nhạc sĩ giáo chức mà chúng tôi rất kính nể, và anh cũng là người nghệ sĩ cuối cùng mà tôi gặp mặt trước khi xa Sài Gòn. Tôi đưa ra cùng một câu hỏi, nhưng lần này bị Tùng Giang “cự nự”: Sao mày lo quá vậy Lộc, hãy cứ để cho số phận an bài! Anh Thiêng bảo: “Nhưng số phận không phải chỉ hoàn toàn là do ở Thượng Đế, mà đôi lúc cũng tùy thuộc vào quyết định của chính mình”, và có ngờ đâu câu nói này đã theo đuổi tôi trong suốt cả cuộc đời còn lại!

Trở về nhà cô em, nơi tụ họp của gia đình, mọi người đã ra đi. Im lặng và trống vắng, tôi đặt mình xuống giường, ngủ như chết! Đến khoảng 5 giờ chiều bỗng có người vừa bấm chuông, vừa gõ cửa ầm ầm, tôi tỉnh giấc và bước ra ngoài xem ai mà hối hả thế, thì gặp ông VõVV, một giới chức cao cấp làm việc tại Bộ Kế Hoạch, anh Võ đến tìm người em trai của tôi là luật sư Nam Khang. Tôi bảo anh, Khang đã vào DAO để chuẩn bị được người Mỹ di tản cùng với gia đình. Anh gật đầu, rồi bất chợt hỏi tôi: Nam Lộc có rảnh không, đi với tôi vào Tân Sơn Nhất chơi, tiện tôi đi công tác đón một yếu nhân của bộ đi họp ở ngoại quốc về. Tôi lưỡng lự từ chối, anh Võ lại đốc thúc, ở nhà làm gì, đi thăm dò tình hình xem sao? Chợt nghĩ, ừ nhỉ, tại sao không? Tôi rửa mặt vội vàng, mặc chiếc quần jean, không kịp đi giầy, sỏ vào đôi dép da của Mẹ để sẵn ngòai cửa, rồi chui vào chiếc xe Volkswagen Beetle chật chội của anh Võ để ra phi trường. Trên đường đến TSN, xe đã bị quân cảnh, cảnh sát rồi MP Mỹ chặn lại hỏi giấy tờ năm lần, bẩy lượt. Lòng tôi cũng hơi bấn loạn, thuộc loại “không” cò tật mà vẫn giật mình, vì tôi có toan tình gì đâu! Nhưng anh Võ đã có sẵn “bùa hộ mệnh”, tấm sự vụ lệnh to tổ chảng của Bộ, với lá cờ VNCH kéo dọc và chéo ngang nên gặp giới chức công lực nào họ cũng phất tay cho đi.
 Sài Gòn, cuối tháng Tư, 1975: Quân Cảnh, Cảnh Sát ở khắp mọi nẻo đường
Vào đến phi trường, còn sớm giờ đón khách, anh Võ rủ tôi đi vào khu tập trung của những người Việt đang được chính phủ Mỹ di tản, tôi hết hồn khi nhìn thấy một rừng người khoảng cả ngàn, vừa đứng, vừa ngồi chen chúc trong khuôn viên bên ngoài trụ sở cùng khu vực Gym của cơ quan DAO để chờ được gọi tên lên máy bay. Rảo vội một vòng, tôi nhận thấy có rất nhiều người quen biết, trong số đó có cả các chính khách dân sự, các sĩ quan chỉ huy cao cấp cùng nhiều quân nhân ở các Sư Đoàn hay Quân Đoàn mà tôi đã gặp. Có các bạn hữu của tôi, và có cả những người đã “hứa là sẽ đưa tôi đi” nếu tình thế khẩn trương, ấy thế mà bây giờ họ đã đứng ở đây? Nhìn cảnh tượng này, khiến tôi lại tăng thêm niềm hoang mang và hoảng loạn.
Hai anh em trở lại xe, bỗng dưng ông Võ cản tôi: Nam Lộc ở lại đây đi, chờ gia đình vào rồi nhập bọn để được di tản cùng! Tôi lắc đầu từ chối, và viện dẫn đủ mọi lý do, nào là không chuẩn bị, không mang theo quần áo, không có đủ giấy tờ, tiền bạc và sau cùng là trách nhiệm trong quân đội v..v...! Nhưng nói tới đâu, ông lại thuyết phục và đưa ra lời giải thích tới đó, để rồi rốt cục tôi nghe ông và ở lại phi trường. Ông Võ còn hẹn thêm là 9 giờ sáng mai, tức là ngày 26 tháng Tư, ông sẽ trở lại, đưa hai người em vào, đồng thời sẽ ghé nhà cô em lấy mấy bộ quần áo cho tôi (cò ngờ đâu đến 16 năm sau tôi mới gặp lại ông qua chương trình HO, sau hơn 10 năm ông đi tù cải tạo và 6 năm vất vưởng sống ở VN).    
Trở lại khung cảnh náo nhiệt tại khuôn viên DAO, phi trường TSN lúc bấy giờ, tôi không biết mình sẽ phải làm gì, gặp ai và phản ứng thế nào nếu có người nhận ra mình, một quân nhân đang hiện dịch? Rồi đến khi nào thì gặp được gia đình? Nếu bị bắt và bị đưa về quân lao thì có ai biết mà lo lắng cho mình? Bên cạnh đó là tiếng cười ròn rã của những người đang chờ đợi các chuyến bay, trộn với tiếng khóc than, oán trách thật bi ai, tất cả đã đưa tôi từ tâm trạng hoang mang, lo lắng, đến khủng hoảng tinh thần. Tôi chợt nhớ lại câu nói của anh Trầm Tử Thiêng lúc ban chiều: “Số phận không phải chỉ hoàn toàn là do ở Thượng Đế, mà đôi lúc cũng tùy thuộc vào quyết định của chính mình”. Nhưng hỡi ôi, quyết định của tôi để ở lại nơi đây, vào giờ này, không phải do Thượng Đế, cũng chẳng phải của chính mình mà là của ông Võ! Rồi cuộc đời sẽ đưa tôi về đâu? Có lẽ không lời diễn tả nào thích hợp hơn bằng bài hát Kinh Khổ mà anh Thiêng đã viết, có thể diễn tả tâm trạng vào thời điểm đó của tôi hay của bao người đang dở khóc, dở cười, bên cạnh lời cầu nguyện mà Mẹ tôi và các bà Mẹ VN khác đang dâng lên Thượng Đế cho tương lai của những đứa con mình?
Xin hẹn sẽ viết tiếp tiếp vào ngày mai, nhưng bây giờ kính mời quý vị và các bạn cùng nghe Kinh Khổ của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng qua giọng hát Khánh Ly:
  

(Bút ký này xin được tưởng nhớ đến những người đã khuất mà tôi xin phép nhắc tên trong bài viết: Thiếu tá Phạm Huấn, thi sĩ Du Tử Lê, anh VõVV, các nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, Tùng Giang, và xin kính tặng những người vẫn còn sống bình an trên cuộc đời này: Nhà văn Văn Quang, thi sĩ Hà Huyền Chi, chị Phúc, Lệ Thanh)
Kinh Khổ - Trầm Tử Thiêng - Khánh Ly

Wednesday, April 22, 2020

John Lenczowski & China

 Tiến sĩ John Lenczowski là người sáng lập và chủ tịch của Học Viện Chính trị Thế giới, một trường đại học độc lập về thuật trị quốc và các vấn đề an ninh quốc gia ở Washington, D.C.
 
Truyền thông, ở Mỹ là "đệ tứ quyền" rất quan trọng, tương tự như các quyền: Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp. Còn ở Tàu thì cái "để tứ quyền" này còn quan trọng hơn nhiều và nó thuộc về "đảng", mà  cái gì đã thuộc về đảng thì "thường dân nam bộ" đi chỗ khác chơi, nếu léng phéng sờ vào, thì dù là vô tình hay hữu ý đề bỏ mạng. Những đứa chống Trump như CNN, CBS, ABC, NBC, MSNBC nhân danh "đệ tứ quyền" mặc cho giặc Tàu và đồng lõa với nó để nó vào họp báo đấu khẩu với TT trong tòa Bạch ốc, phá nát cái quyền của chính mình! 

Mời đọc...
Bài thuyết trình của Tiến Sĩ John Lenczowski quá hay...
"Chúng ta cần phải có chiến tranh thông tin toàn diện."

Bài này rất giá trị, là hồi chuông cảnh báo cần phổ biến rộng rãi.  Đặc biệt nhũng ai chỉ tin vào báo Mỹ New York Times, Washington Post, CNN hãy đọc kỹ và suy gẫm xem ai làm hại nước Mỹ. Xin cám ơn người chuyển. 
Vào ngày 18 tháng 10 năm 2019, Defense Forum Foundation (Quỹ Diễn đàn Quốc phòng) đã tổ chức Congressional Defense and Foreign Policy Forum on Capitol Hill (Diễn đàn Chính sách đối ngoại và Quốc phòng của Quốc hội tại Capitol Hill). Tiến sĩ John Lenczowski, người sáng lập và Chủ tịch của Institute of World Politics, IWP (Viện Chính trị Quôc tế) đã bàn về mối đe dọa của Trung Cộng đối với Hoa Kỳ và những điều cần phải làm để triển khai một chiến lược tổng hợp toàn diện. Dưới đây là bản ghi lại cuộc thảo luận đó.
Suzanne Scholte: Chào quý vị, xin quý vị chú ý, chúng ta sẽ bắt đầu với chương trình.. Tôi là Suzanne Scholte, Chủ tịch Quỹ Diễn đàn Quốc phòng. Tôi hân hạnh chào đón quý vị đến Diễn đàn Chính sách đối ngoại và Quốc phòng của chúng tôi. Xin cám ơn quý vị. Tôi biết tất cả mọi người đều có một lịch trình rất bận rộn, nhưng tôi muốn cảm ơn quý vị đã dành thời gian để tham gia với chúng tôi hôm nay. Trước khi giới thiệu diễn giả, tôi muốn ghi nhận nỗ lực của ông Ty McCoy, Phó Chủ tịch của chúng tôi, một trong những người có công trong việc thực hiện diễn đàn này ngày hôm nay.
 Tôi cũng muốn giới thiệu một anh hùng cho người dân Tàu; người là nguồn cảm hứng cho những người chiến đấu cho tự do trên toàn thế giới, ông cũng là một trong những anh hùng đối với cá nhân tôi, Tiến sĩ Yang Jianli, Chủ tịch và Người lập ra Citizen Power Initiatives for China (Sáng kiến Quyền lực Công dân cho Trung Hoa). Ông vừa về từ Prague nhưng đã vội đến đây chỉ để nghe diễn giả của chúng ta.
Diễn giả của chúng ta hôm nay, Tiến sĩ John Lenczowski, là Người sáng lập và Chủ tịch của Viện Chính trị Thế giới, là tổ chức học thuật duy nhất chuyên giảng dạy tất cả các nghệ thuật trị nước, từ chiến lược quân sự, đến chiến lược kinh tế, đến lãnh đạo tinh thần, và làm thế nào để hội nhập những điều này vào một chiến lược quốc gia. Thực vậy, ông là người đầu tiên đặt ra thuật ngữ full-spectrum diplomacy (ngoại giao toàn phổ) là một chiến lược tổng hợp bao gồm tất cả các công cụ nhập cuộc, bao gồm cả ngoại giao truyền thống và ngoại giao quần chúng, cũng như ngoại giao văn hóa, tức là tăng cường liên hệ với quần chúng – đó là điều mà tôi rất ưa thích, bởi vì như nhiều người trong quý vị biết chúng tôi có liên kết với Đài phát thanh Bắc Hàn, là đài tiếp súc với người dân ở Bắc Hàn..
Tôi muốn nói với quý vị một chút về những gì tiến sĩ John Lenczowski đã làm trước khi ông thành lập Học viện Chính trị Thế giới. Vào những năm 1980, ông phục vụ tại Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ với tư cách là Cố vấn đặc biệt cho Thứ trưởng Ngoại giao phụ trách Chính trị. Trong nhiệm vụ này ông đã giúp cho Radio Free Europe và Radio Liberty có sự hỗ trợ cần thiết để phổ biến tin tức nhanh chóng và khắc phục những nỗ lực gây nhiễu của Liên Xô. Ông đã vận động Quốc hội chuẩn y 2.5 tỷ đô la để hiện đại hóa VOA và Radio Free Europe / Radio Liberty. Đồng thời, ông là thành viên của Active Measures Working Group (Nhóm làm việc về các biện pháp tích cực), nhắm vào thông tin sai lệch của Liên Xô.. Sau đó, ông là Giám đốc về Âu châu và Liên Xô Sự vụ tại Hội đồng An ninh Quốc gia, với chức vụ là Cố vấn chính về Liên Xô sự vụ cho Tổng thống Ronald Reagan. Trong vai trò đó, ông đã giúp phát triển chính sách giúp làm sụp đổ Đế quốc Liên Xô. Do đó, vì là một trong những người đã giúp Hoa Kỳ chiến thắng trong Chiến tranh Lạnh chống lại Liên Xô, nên điều thích hợp nhất là tôi đã mời Tiến sĩ Lenczowski thảo luận về đề tài: Chiến lược của Hoa kỳ để đáp ứng mối đe dọa ngày càng tăng của Trung Cộng. Xin mời ông John.
Tiến sĩ John Lenczowski là người sáng lập và chủ tịch của Học Viện Chính trị Thế giới, một trường đại học độc lập về thuật trị quốc và các vấn đề an ninh quốc gia ở Washington, D.C.
Tiến sĩ John Lenczowski: Xin chào quý vị. Cảm ơn bạn Suzanne rất nhiều vì lời giới thiệu rất hay đó. Bạn thực sự đã tìm hiểu rất kỹ về quá trình hoạt động của tôi. Tôi rất biết ơn bạn đã làm công việc đó. Tôi muốn cảm ơn bạn vì những nỗ lực anh dũng không ngừng của bạn để bảo vệ tự do và an ninh cho đất nước này, và yểm trợ công cuộc tranh đấu của những người bị áp bức trên toàn thế giới, đặc biệt là ở Bắc Hàn và Trung Cộng. Bạn đã là một trong những người kiên định hoạt động cho an ninh quốc gia của chúng ta trong nhiều năm. Chính bạn đã giúp tôi có vinh dự tham gia vào diễn đàn này.

Tôi cũng muốn cảm ơn Ty McCoy đã hỗ trợ cho Quỹ Diễn đàn Quốc phòng. Điều ngẫu nhiên Ty cũng là một thành viên của Hội đồng quản trị và ban Điều hành của Viện Chính trị Thế giới. Anh ấy là một người hỗ trợ tuyệt vời cho nỗ lực của chúng tôi, và vì vậy tôi muốn cảm ơn Ty vì sự phục vụ phi thường của anh ấy cho đất nước trong nhiều năm.
Hôm nay, tôi muốn nói về cách khai triển một chiến lược tổng hợp để đối phó với Trung Cộng. Trước khi bắt đầu nói về những gì chúng ta phải làm, tôi muốn thảo luận ngắn gọn nhất có thể về toàn bộ mối đe dọa của Trung Cộng đối với Hoa Kỳ và thế giới tự do.
Trung Cộng đã tiến hành Chiến tranh Lạnh chống lại Hoa Kỳ trong nhiều năm, hoặc có thể nói nhiều thập kỷ. Tuy nhiên, chúng ta có rất nhiều trở ngại cho khả năng nhận thức thực tế này. Chúng ta có những ý nghĩ không tưởng về cách Trung Cộng sẽ tự biến đổi trong nội bộ. Chúng ta có đầy những suy nghĩ mơ ước, sự mù quáng cố ý – điều mà Solzhenitsyn gọi là “không muốn biết”. Chúng ta không muốn đối mặt với những thực tế đang diễn ra ngay trước mắt chúng ta.
Rồi, lẽ dĩ nhiên, có rất nhiều người đã có được những bài học rất hay phải tự kiểm duyệt mình để sống trong một chế độ toàn trị. Chúng ta thấy các doanh nghiệp của chúng ta cũng tự kiểm duyệt, cho dù đó là NBA (US National Basketball Association – Hội Bóng Rổ Hoa kỳ), tập hợp khách sạn, các hãng hàng không của chúng ta và mọi người khác. Đó là một cảnh tượng thảm hại và kinh tởm cho những người trong chúng ta tin rằng khi sống ở Mỹ, ta vẫn phải có đủ can đảm để nói ra một số sự thật. Nhưng điều đó trở nên ít có thể làm được, ngay cả ở đất nước chúng ta, khi các trường đại học của chúng ta cũng ở trong số những kẻ thù lớn nhất của tự do ngôn luận, và hiện tượng tránh né đụng chạm chính trị đang diễn ra tràn lan ở đất nước chúng ta.
Tôi xin kiểm điểm một số hành động Chiến tranh Lạnh mà Trung Cộng đã và đang thực hiện chống chúng ta.
Trước hết, có hoạt động gián điệp thực sự rất lớn chống đất nước chúng ta. Có ít nhất 50.000 người thu thập thông tin tình báo Trung Cộng ở đất nước này, nhưng chúng ta biết có thể gấp đôi số đó. Tôi không nghĩ rằng phản gián của Hoa Kỳ có thể cho chúng ta một số ước tính tốt. Tôi chỉ biết là bất cứ khi nào tôi nói chuyện với các cơ quan phản gián của chúng ta, mỗi khi tôi đưa ra con số đại khái là 10.000, hay 25.000 thì họ đều nói rằng tôi đánh giá quá thấp.. Vì vậy 50.000 dường như là một con số chính xác hơn.
Có hơn 350,000 sinh viên Tàu tại đất nước này, trong số đó, và thêm vào đó, còn có hàng ngàn nhà nghiên cứu Tàu. Trong một năm người Tàu thực hiện 5.000 chuyến thăm tới các phòng thí nghiệm quốc gia của chúng ta, mỗi chuyến thăm có thể lâu từ hai tuần đến hai năm. Chúng ta để họ làm mhư vậy. Chúng ta chuyển giao cho họ kỹ thuật công nghệ của chúng ta. Tất nhiên, chúng ta không chỉ để họ lấy cắp; chúng ta thực sự đưa nó cho họ... Và trong khoảng ba đến bốn thập kỷ, chúng ta đã kín đáo và cố tình hỗ trợ Trung Cộng trong việc phát triển khoảng 10.000 kỹ thuật công nghệ khác nhau..
Hoa Kỳ đã cố tình xây dựng Trung Cộng thành một siêu cường và trở thành mối đe dọa sinh tử đối với sự tồn tại của chính chúng ta. Chúng ta đã làm như vậy trên cơ sở những gì tôi bây giờ tôi coi là – và ngay vào thời điểm đó – một chính sách rất thiếu sáng suốt khi cố gắng chơi trò cân bằng quyền lực chính trị thế kỷ 19 bằng cách dùng Trung Cộng chống lại Liên Xô. Rốt cục chính sách này đã tạo ra một sự ngộ nhận vừa về đạo đức vừa về chiến lược, coi Liên Xô cộng sản xấu và ngụ ý coi Trung Cộng tốt. Chính quyền Obama đã cấp thị thực 10 năm cho 2 triệu người Tàu. Trong số những người Tàu vào nước ta có những phụ nữ đang sinh con ở đây – để con thành công dân Mỹ – nhưng sau đó mẹ lại về Tàu.
Người Tàu Cộng đang tiến hành thu thập số lượng dữ liệu khổng lồ về người Mỹ. Tất nhiên, quý vị đã biết khoảng 21 triệu tập tài liệu về bản thân của những người được phép tiếp cận với tài liệu mật mà tình báo Trung Cộng đã đánh cắp từ Văn phòng Quản lý Nhân viên. Chúng ta biết rằng 78 triệu hồ sơ y tế đã bị hack và lấy trộm từ công ty bảo hiểm y tế Anthem. Một trong những công ty lớn có thể cho bạn biết bạn có tổ tiên là người Neanderthal không là một công ty của người Tàu, và họ đang thu thập DNA của chúng ta.
Họ đang tiến hành một công cuộc xây dựng quân sự khổng lồ, bao gồm cả vũ khí không gian. Người ta cho rằng họ đang đi trước chúng ta trong việc vũ khí hóa không gian. Vào năm 2007, họ đã tiến hành một cuộc thử nghiệm laser chống lại các vệ tinh của Hoa Kỳ để chứng minh khả năng làm mù các vệ tinh. Họ có vũ khí trực tiếp phóng lên chống vệ tinh. Chúng ta không có gì để chống lại các võ khí này. Họ đang nỗ lực tăng cường hải quân, trong khi các tàu của chúng ta bắt đầu lỗi thời và các hạm đội của chúng ta bị thu hẹp thì Trung Cộng tiếp tục đẩy mạnh xây dựng hải quân với tốc độ rất nhanh..
Trung Cộng đã xây dựng Vạn Lý Trường Thành ngầm, là một tập hợp các đường hầm được gia cố bằng thép và bê tông, trong đó bạn có thể lái một chiếc xe tải, phía sau có kéo một bệ phóng ICBM di động có vũ khí hạt nhân. Hệ thống đường hầm này lớn cỡ nào? Ước tính tốt nhất cho đến nay là vào khoảng 3,000 dặm đường hầm. Họ che giấu tên lửa hạt nhân trên đất liền của họ trong các đường hầm này.. Người ta không biết điều này, bởi vì các cơ quan truyền thông lớn của chúng ta đã không phổ biến điều này. Trung Cộng đã phát triển một loại bom neutron. Họ đang phát triển và có thể đã sản xuất vũ khí siêu âm. Họ đã phát triển khả năng gửi một xung điện từ có thể quét sạch toàn bộ lưới điện của chúng ta. Chúng ta hầu như chưa làm được như thế. Có rất nhiều điều cần nói về quân sự. Nhưng đó chỉ là một vài điểm nổi bật.
Sau đó là các hoạt động gây ảnh hưởng và tuyên truyền của họ. Trung Cộng có các hoạt động tuyên truyền lớn đang diễn ra trên khắp thế giới.. Họ có khoảng 3,000 đài truyền hình, 2,500 đài phát thanh. Họ kiểm soát hàng ngàn tờ báo, ít nhất sáu tờ báo tiếng Anh. Họ đang phát sóng bên trong đất nước này, từ trong biên giới của chúng ta và từ Mexico.
Họ đang lũng đoạn phương tiện truyền thông của chúng ta. Chúng ta đều biết về các kỹ thuật truyền thống để báo cáo từ các nước toàn trị. Đó là trường hợp ở Liên Xô, ở Tàu cũng vậy, các nhà báo của chúng ta không viết về những gì tôi gọi là bốn điều cấm kỵ. Bốn điều cấm kỵ là gì? Đừng viết về quân đội Trung Cộng; đừng viết về gián điệp của họ; đừng viết về các biện pháp thi hành, tuyên truyền và hoạt động lén lút của họ; và đừng viết về vi phạm nhân quyền của họ. Nếu bạn tự kiểm duyệt tất cả những điều đó, nếu bạn không làm gì quá xúc phạm đối với các quan ở Bắc Kinh thì họ có thể để bạn báo cáo những điều tầm thường hơn nhiều.
Xin nói thêm là các học giả Mỹ cũng tự kiểm duyệt, bởi vì nếu họ viết về bất kỳ điều gì trong bốn điều cấm kỵ quá mức xúc phạm tới Bắc Kinh, thì họ sẽ không được cấp thị thực vào Trung Cộng. Vì vậy, cả nhà báo và các học giả đều bị chi phối bởi hạn chế thị thực và các hạn chế tiếp cận khác. Hiển nhiên các phóng viên sẽ phải tự kiểm duyệt, nếu họ không muốn văn phòng ở Bắc Kinh của họ bị đóng cửa. Nhưng những người giỏi nhất sau đó sẽ về Mỹ và có lẽ viết một cuốn sách với sự thật mà họ không thể báo cáo trên các trang nhất của tờ New York Times và The Washington Post.
Nói về hai tờ báo đó, hai tờ báo có ảnh hưởng nhất ở Hoa Kỳ: cả hai đều lấy hàng triệu đô la từ Bộ tuyên truyền Bắc Kinh để đăng tải phụ trương định kỳ China Watch, tài liệu tuyên truyền cố hữu của Cộng sản. China Watch ảnh hưởng mọi người đến mức nào? Tôi không dám nói chính xác. Tôi nghĩ rằng nó phải ảnh hưởng một phần nào. Điều nó thực sự làm là nó khai thác sức mạnh của phương tiện truyền thông để bỏ qua, và cơ bản là nó mua chuộc giới truyền thông để tuân thủ bốn điều cấm kị. Các phương tiện truyền thông lớn khác, chẳng hạn như các mạng truyền hình, cũng làm theo New York Times và The Washington Post. Nếu quý vị muốn tìm hiểu bất cứ điều gì về một số vấn đề trong số bốn chủ đề cấm kỵ này, quý vị phải đọc The Washington Times, The Epoch Times và các nguồn truyền thông khác không bị Bắc Kinh hủ hóa.
Bắc Kinh đang hủ hóa các tổ chức học thuật của chúng ta là nơi có lập 107 Học viện Khổng Tử. Đây là những trung tâm tuyên truyền nhằm tiêu diệt những chỉ trích của giới kinh điển về chính sách của Bắc Kinh. Các viện này bị người Tàu Cộng kiểm soát và phải tuân theo quy định phát biểu của Trung Cộng. Chúng ta có 20 trung tâm văn hóa Mỹ ở Trung Cộng do người Tàu Cộng kiểm soát chứ không phải chúng ta.
Trung Cộng đang cho rất nhiều tiền cho các trường đại học Mỹ. Họ đã tặng 250 triệu đô la cho Harvard, hàng triệu đô la cho Stanford. Báo cáo đáng tin cậy nói rằng một tổ chức trá hình của tình báo Trung Cộng đã cho tiền và tham gia vào các dự án chung với Atlantic Council, (Hội đồng Đại Tây Dương), East-West Institute (Viện Đông-Tây), the Carnegie Endowment for International Peace (Quỹ Carnegie vì Hòa bình Quốc tế), the Carter Center (Trung tâm Carter) và the Brookings Institution (Viện Brookings). Còn có nhiều tổ chức khác nữa. Trường cũ của tôi, Johns Hopkins School of Advanced International Studies (Trường Nghiên cứu Quốc tế Cao cấp Johns Hopkins), đã lấy tiền từ tổ chức trá hình này. Tất cả đều bị hủ hóa. Đó là điều không thể dung tha được trong một xã hội tự do. Hình như không có ai nói nhiều về vấn đề này.
Trung Cộng đang ráo riết cố gắng hủ hóa các chính trị gia của chúng ta. Có tài liệu đầy đủ về các đóng góp rất lớn của họ cho các cuộc tranh cử ít ra là từ thập niên 1990, Họ nhắm vào các nhân viên của quốc hội, vào người trong gia đình của các chính trị gia. Họ thích làm giầu cho bà con của một số các chính trị gia nổi tiếng. Quý vị có thể đọc một chút về sự kiện này trên báo. Sau đó, họ nhắm mục tiêu vào các chính trị gia tiểu bang và địa phương, bởi vì họ biết rằng ủy viên hội đồng có thể trở thành thượng nghị sĩ tiểu bang và một thượng nghị sĩ tiểu bang có thể trở thành nghị sĩ Hoa Kỳ: đây là chiến lược được gọi là chiến lược triều cường.
Lẽ dĩ nhiên Trung Cộng hành động gây ảnh hưởng trong cộng đồng doanh nghiệp của chúng ta. Sự trung lập hoá chính trị giới doanh nghiệp Mỹ là một trong những hiện tượng ngoạn mục và có ý nghĩa chiến lược nhất mà chúng ta từng thấy trong bất kỳ hành vi kiểu Chiến tranh Lạnh nào trong suốt thế kỷ qua. Lenin, Stalin, Brezhnev, Andropov, Gorbachev – ngoại trừ Gorbachev hãy còn sống – chắc phải ghen ty dưới mồ khi thấy Trung Cộng thành công như thế nào trong việc trung lập hóa chính trị giới doanh nghiệp của chúng ta.
Nhiều nhà lãnh đạo doanh nghiệp – thành viên hội đồng quản trị của các trường đại học và các think tank của chúng ta – đang kiếm được nhiều tiền nhờ kinh doanh với Trung Cộng. Một số trong các người đó đang kiểm duyệt các công việc phân tích đang diễn ra trong những think tank đó. Một ví dụ cụ thể, trong một think tank nổi tiếng ngay tại thành phố này, một nhà phân tích quân sự đã viết về sự phát triển của quân đội Trung Cộng một cách khách quan vô tư, dựa trên thực tế, không có tính cách mị dân. Một nhà lãnh đạo doanh nghiệp lớn có lợi ích kinh doanh lớn ở Trung Cộng và cũng là một nhà tài trợ chính cho think tank đó rất bận tâm về tài liệu phân tích của chuyên gia này, bởi vì nhà doanh nghiệp đó nghĩ rằng nếu nhiều người Mỹ bắt đầu lo lắng về việc tăng cường lực lượng quân sự của Trung Cộng, thì điều đó có thể là gây ra căng thẳng Mỹ-Trung. Ông ta tin rằng nếu có thêm căng thẳng giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng, thì sẽ gây ra tình trạng bất ổn ảnh hưởng bất lợi đến lợi ích kinh doanh của ông. Ông sắp xếp để chuyên viên phân tích đó bị sa thải và cho một số tiền lớn để bịt miệng. Chuyên viên bị sa thải đến một think tank khác. Hai ủy viên quản trị của think tank này là những người đóng góp tài chính lớn cho think tank đó dọa sẽ từ chức và ngưng hỗ trợ tài chính cho think tank nếu không sa thải chuyên viên này. Thế là ông chuyên viên đó lại bị sa thải.
Tôi có thể kể cho quý vị nhiều câu chuyện nữa như vậy, như chuyện một trong những giáo sư của chúng ta đã từng làm việc tại một think tank lớn khác. Ông bắt đầu phản đối công khai về việc có bao nhiêu cựu thành viên Nội các – Bộ trưởng Ngoại giao, Bộ trưởng Quốc phòng và Giám đốc Tình báo Trung ương – đều trực tiếp hoặc gián tiếp nhận thù lao của Bắc Kinh. Tuy nhiên, chính những người này đã tới Quốc hội, tới các tòa nhà như thế này, đến các phòng gần đó để điều trần với tư cách là các chính khách cao niên, bề ngoài là vì lợi ích của Hoa Kỳ, nhưng không tiết lộ mâu thuẫn về quyền lợi (conflict of interest) “ăn cây táo rào cây sung” của họ. Họ hầu như luôn luôn hạ thấp mối đe dọa của Trung Cộng. Đó là chủ đề chính: hạ thấp mối đe dọa Trung Cộng và khuyến khích mọi người tin rằng Trung Cộng sẽ cải tổ nội bộ và trở thành một nền dân chủ. Chà, chính một trong những thành viên nội các đó lại là thành viên trong hội đồng quản trị think tank, và chính ông ta đã sắp xếp việc sa thải anh chuyên viên phân tích. Rốt cục chúng tôi đã thu dụng anh chuyên viên đó vào Học viện Chính trị Thế giới.
Trung Cộng đầu tư nhắm vào các khu vực bầu cử mà Trung Cộng đặc biệt chú ý. Một trong những chiến lược chính của họ là liên doanh với một công ty địa phương của Mỹ. Nếu có một số mối đe dọa đối với lợi ích của Trung Cộng, mối đe dọa đó cũng sẽ ảnh hưởng tới nhân viên trong công ty Mỹ đó. Gần đây, chúng tôi đã thấy một trong những nhà lãnh đạo nổi bật của chúng ta tại Hạ viện này đứng ra bảo vệ một liên doanh Hoa Kỳ-Trung Cộng trong khu vực bầu cử trái với lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ.
Trung Cộng đang thực hiện các biện pháp tích cực. Các biện pháp tích cực là một thuật ngữ cũ của KGB dùng để chỉ thông tin sai lệch, giả mạo, hoạt động bí mật ảnh hưởng tới chính trị, khiêu khích, nghi binh, tuyên truyền đen, tất cả các loại “hành động có tính cách tuyên truyền”, kể cả khủng bố, v.v. Họ để Bộ phận Công tác Mặt trận Thống nhất của họ làm việc này. Đó là một hoạt động lớn. Tập Cận Bình đã bổ sung 40.000 nhân sự mới cho Ban Công tác Mặt trận Thống nhất Trung ương Đảng Cộng sản Tàu (United Front Work Department), thêm vào hàng ngàn người đã làm việc ở đó (nhưng tôi chưa thể có con số nhân sự chính xác). Những biện pháp tích cực này rất đa dạng. Hôm nay tôi không thể đi vào chi tiết: chỉ cần nói rằng người Tàu Cộng đang sử dụng phương tiện truyền thông xã hội như một phần trong công cụ tuyên truyền, những nỗ lực của họ cũng lớn như những nỗ lực của Nga đã được ghi nhận kỹ lưỡng trong Báo cáo Mueller. Nhưng dường như không ai quan tâm nhiều đến các hoạt động của Trung Cộng.
 Người Tàu (cộng) đã xâm nhập vào cộng đồng người Mỹ gốc Tàu trên khắp thế giới và ở đất nước này, và đã cố gắng chiếm lấy và gây ảnh hưởng đến giới truyền thông Mỹ gốc Tàu. Họ cố gắng bịt miệng những người bất đồng chính kiến đang tị nạn ở Hoa Kỳ.
Tàu cộng đang ảnh hưởng đến Hollywood. Họ hạn chế số lượng phim có thể được phân phối bên trong Trung Cộng và họ khiến các nhà sản xuất Hollywood phải tự kiểm duyệt để làm các bộ phim, bao gồm cả những bộ phim chỉ được chiếu ở Hoa Kỳ, không xúc phạm tới Tàu Cộng – đây là một vấn đề rất lớn. Trung Cộng sở hữu toàn bộ chuỗi nhà hát AMC [1].
Sau đó, họ đã có chiến lược kinh tế. Đó là một chiến lược có đặc trưng ngắn gọn là sự hoàn toàn không có qua có lại. Nó không phải là tự do mậu dịch. Đó là chiến lược giao dịch trọng thương vơ lợi vào cho mình, nhằm ngầm phá hoại các tập đoàn Mỹ, khiến họ bị sập tiệm và chiếm thị phần của họ ở Hoa Kỳ. Họ mua các công ty Mỹ. Họ đã liên doanh với các công ty Mỹ. Họ tài trợ cho các công ty công nghệ cao của Mỹ. Họ sử dụng thị trường vốn của Mỹ để tiếp cận vốn để tài trợ cho sự phát triển công nghệ của chính họ và công cuộc tăng cường quân đội. Ngay bây giờ, có một số nỗ lực, tôi không biết chính xác chi tiết về điều này, có thể thay đổi một số quy định tại Hoa Kỳ cho phép các quỹ hưu trí liên bang và quỹ hưu trí quân sự của chúng ta, đổi từ mức 5% mức đầu tư vào các công ty Tàu Cộng, lên mức 20% hoặc 25%. Phải ngăn chặn mưu toan này. Có lẽ có một người trong phòng hội này có khả năng làm điều gì đó.
Tàu Cộng, tất nhiên, đặt điều kiện khi vào thị trường Trung Cộng: Bạn phải chuyển giao công nghệ của bạn. Bạn phải mang hoạt động nghiên cứu và phát triển của mình vào Trung Cộng. Họ không cho phép bạn tiếp cận với tất cả hàng tỷ người tiêu dùng của họ. Họ đang sản xuất hàng giả. Tất nhiên, họ đang sử dụng công nghệ đánh cắp được. Thành thật mà nói, tôi nghĩ rằng chúng ta cần bắt đầu sử dụng một số ngữ nghĩa tốt hơn về tất cả những điều này. Khi một người mua một sản phẩm của Trung Cộng, đôi khi người ta mua hàng hóa thực sự là “hàng ăn cắp”. Tôi không nghĩ rằng đó là danh dự hay đạo đức, và có lẽ nó không nên coi việc mua hàng ăn cắp là hợp pháp.
Họ đang mua chuộc nhiều nguời giỏi nhất và sáng giá nhất của chúng ta và thu dụng họ vào Kế hoạch Ngàn người (Thiên nhân Kế hoạch) của họ.
Họ cho người của họ nằm vùng trong các công ty kế toán quan trọng nhất ở đất nước này. Thế là tình báo Trung Cộng nắm được thông tin nội bộ của những đại công ty để giúp họ tham gia vào các hoạt động bất hợp pháp trong thị trường chứng khoán. Những công ty kế toán nhìn thấy những sổ sách nội bộ của nhiều tập đoàn lớn của chúng ta. Vì vậy, tình báo Trung Cộng có được thông tin nội bộ về khiến họ tham gia vào các giao dịch bất hợp pháp trên thị trường chứng khoán. Nhưng vì họ có lợi thế nhờ các dịch vụ tình báo giúp đỡ họ, họ có thể che giấu tất cả những điều này theo cách mà SEC (Ủy ban Giao dịch và Chứng khoán Hoa Kỳ – Securities and Exchange Commission) và các cơ quan thi hành luật khác không thể xử lý.
Trung Cộng đã đột nhập các giao dịch trên mạng của các của công ty Hoa Kỳ. Họ đã có thể hack vào các máy chủ của công ty nơi đặt hàng sản phẩm và giảm mức độ của những đơn hàng đó.. Do đó, họ đã phá hoại sự thành công của các công ty công nghệ cao mới phát triển. Và sau đó, khi công ty bắt đầu lung lay, họ sẽ đến và mua công ty với giá rất rẻ.
 Họ có một chiến lược chiến tranh kinh tế bao gồm các mánh khóe bất hợp pháp như naked short selling [2], và đã được phát hiện trong quá khứ, đặc biệt là trong cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, nơi cả Trung Cộng và một số quỹ tài sản có giới cầm quyền ở Trung Đông đều tham gia bán, tất cả thông qua một công ty môi giới không có tiếng tăm gì ở Texas. Mặc dù thực tế điều này là bất hợp pháp, nhưng chúng ta dường như không chú ý nhiều đến nó, bởi vì chính phủ Hoa Kỳ không quan tâm nhiều đến chiến tranh kinh tế..
Tiếp đến là mối đe dọa 5G mà chính tôi cũng không thể bắt đầu mô tả mức độ bị tổn thương của đất nước chúng ta và toàn bộ thế giới tự do, nếu Trung Cộng thành công trong việc độc quyền 5G. Họ sẽ có thể dùng kỹ thuật đó như một vũ khí trong mọi lĩnh vực: mọi công nghệ được kết nối và không bảo mật đều có thể bị 5G khống chế.
Họ có một chiến lược chính trị toàn cầu. Tất cả quý vị đều biết về Sáng kiến Vành đai và Con đường, một nỗ lực tân thuộc địa để lôi kéo giới lãnh đạo chính trị ở các quốc gia trên thế giới. Trong nhiều năm, họ đã có một chiến lược toàn cầu để duy trì sự hiện diện về dân số và cơ sở hạ tầng tại mọi điểm then chốt chiến lược trên mặt biển lớn trên thế giới: tại Eo biển Malacca, Eo biển Hormuz, ở Eo biển Bab-el-Mandeb họ có căn cứ mới ở Djibouti, họ đã ở kênh đào Suez, họ ở Dardanelles, họ ở hai đầu kênh đào Panama. Tôi không biết về Gibraltar. Nếu có ai nghe nói về sự hiện diện của Trung Cộng tại Gibraltar, xin cho tôi biết và tôi có thể thêm vào bảng liệt kê.
Rồi còn có những hành động xâm lược linh tinh khác nữa. Dịch fentanyl ở đất nước này không phải ngẫu nhiên mà có. Người Tàu đã dính líu vào chiến tranh ma túy. Thực vậy, toàn bộ chương trình của Liên Xô được gọi là Druzhba narodov (hữu nghị giữa các dân tộc), là một chương trình được Nikita Khrushchev phát triển vào những năm 1950, để khiến cho không phải KGB và GRU, mà là các nước chư hầu của đế chế Liên Xô  đưa ma túy vào Tây phương để làm hỏng đầu óc của giới trẻ Mỹ; để kiếm được nhiều tiền – rất nhiều tiền – đến nỗi họ đã tài trợ cho toàn bộ dịch vụ tình báo của các quốc gia chư hầu bằng tiền bán ma túy bất hợp pháp; và nắm hồ sơ về các chính trị gia tham nhũng ở nhiều quốc gia khác để các người này có thể bị thao túng cho mục đích tình báo. Nikita Khrushchev đã làm tất cả những điều này như thế nào? Ông lấy cảm hứng từ việc người Tàu sử dụng ma túy như một vũ khí chiến tranh trong Chiến tranh Triều Tiên. Nó hiệu quả đến nỗi ông muốn làm theo y như vậy để phục vụ cho Liên Xô trong Chiến tranh Lạnh.
Khoảng 15 năm trước – tôi không nhớ ngày chính xác – một trong những sinh viên của chúng tôi tại Học viện Chính trị Thế giới, người làm việc với đơn vị tình báo tại Hải quan Hoa Kỳ, nói với chúng tôi về cách Hải quan Hoa Kỳ vừa bắt vụ Trung Cộng mưu đồ xuất khẩu sung AK-47 cho các băng đảng đường phố Los Angeles. Vũ khí tiếp theo mà họ mưu toan gửi đến là những tên lửa phòng không vác vai mô phỏng loại Stinger.
Tất nhiên, rất nhiều mối đe dọa mà chúng ta phải đối mặt là kết quả của các nhược điểm chúng ta tự gây ra. Chúng ta phụ thuộc đáng một cách kinh ngạc vào Trung Cộng đối với các loại dược phẩm theo toa và các chuỗi cung ứng quan trọng khác.
Vậy phải làm gi? Tôi nghĩ điều số một là phải nói thật. Đã từ lâu, quá lâu, chúng ta đã không nói lên sự thật cho chính chúng ta. Điều này đã khiến chúng ta bị nguy hại không thể tưởng tượng được.  Đương kimTổng thống, dù ta có thể cho ông là thế nào đi chăng nữa, là Tổng thống đầu tiên trong số các vị cầm quyền khác đã nói lên một số sự thật rõ rệt về mối đe dọa từ Trung Cộng. Tôi nghĩ rằng chính quyền này còn có thể làm nhiều điều hơn nữa.
Điều tiếp theo là chúng ta phải thiết lập phòng thủ.. Tôi nghĩ rằng một trong những phòng thủ đầu tiên mà chúng ta phải xây dựng là một nỗ lực mới to lớn trong công cuộc phản gián. Hiện tại, chúng ta yếu về phản gián. Chúng ta đã yếu trong nhiều năm. Có rất nhiều lý do cho tình trạng này. Chúng tôi tại Viện Chính trị Thế giới nghiên cứu điều này rất cẩn thận. Những người bạn quan tâm đến vấn đề này nên đến học hỏi tại viện của chúng tôi. Ngoài chính phủ Hoa Kỳ, chúng tôi là tổ chức đầu tiên cấp bằng Thạc sĩ về Nghiên cứu Tình báo Chiến lược bên và chúng tôi có chương trình phản gián nghiêm túc nhất trên toàn quốc. Tất cả những gì tôi có thể nói là trận tấn công tình báo ào ạt chống lại đất nước chúng ta phải được ngăn chặn. Chúng ta cần đặt nhiều trí tuệ hơn vào cuộc phản công, và tiếp theo phải có nhiều nhân lực hơn, Sau đó, chúng ta cần ban hành một số chính sách mới, nhưng rất cơ bản..
Chúng ta phải bắt đầu hạn chế sự tiếp cận. Trong Chiến tranh Lạnh, chúng ta đã không để cho người Liên Xô đi hơn 25 dặm ngoài các cơ sở ngoại giao của họ tại khu vực thủ đô quốc gia, tại New York (tại trụ sở Liên Hiệp Quốc), và bất cứ nơi nào họ có một lãnh sự quán, như ở San Francisco, chẳng hạn. Người Tàu Cộng được đi bất cứ nơi nào trong đất nước chúng ta, điều này không thể tiếp tục. Chúng ta không được tự do đi lại trong Trung Cộng. Cần phải có qua có lại.
Đối xử tương đồng là điều then chốt. Nếu bất kỳ từ nào cần được lấy ra khỏi văn mạch của điều tôi đang trình bầy này, thì cần phải xác nhận rằng đối xử tương đồng trong quan hệ với Trung Cộng cần phải thi hành. Chúng ta không bao giờ thực sự có đối xử tương đồng với Liên Xô. Liên Xô có nhiều đặc vụ KGB ở Đại sứ quán Hoa Kỳ ở Moscow hơn số người Mỹ làm việc ở đó. Không thể tưởng tượng lại có một biểu hiện nào quái dị hơn về sự ngây thơ, dại dột và thiếu thận trọng đó. Chúng ta muốn cho người khác hưởng điều bán tín bán nghi ngay cả khi không có nghi ngờ gì nữa. Đó là cách suy nghĩ bệnh hoạn. Nhưng bản tính của chúng ta là như vậy. Chúng ta phải suy nghĩ chín chắn hơn và nhận ra rằng quốc gia chúng ta sẽ không còn nữa, nếu chúng ta tiếp tục hành động như chúng ta đã làm trong hai thập kỷ qua.
Chúng ta cần hạn chế thị thực.  Đối với các phóng viên truyền thông chính thức, Trung Cộng cấp cho chúng ta hai thị thực nhập cảnh cho phóng viên của Đài Tiếng nói Hoa Kỳ tại Bắc Kinh. Họ không cho chúng ta một thị thực nữa cho một phóng viên VOA ở Thượng Hải. Nhưng chúng ta cho họ 860 thị thực chính thức cho các nhà “nhà báo” tuyên truyền của họ đến với đất nước này.
Chúng ta phải hạn chế sự tiếp cận với các phòng thí nghiệm quốc gia, đến các trường đại học, hạn chế cho vào các cơ sở nghiên cứu của công ty. Mới vài tuần trước đây, tôi đã gặp một anh có bằng kỹ sư tại trường kỹ thuật của Đại học Maryland. Anh nói nơi này rất đầy rẫy các sinh viên kỹ thuật Tàu Cộng, và họ đã có bằng kỹ sư trước khi họ bắt đầu học để lấy bằng cấp mới giống hệt tại trường Đại học. Tại sao họ đã có bằng rồi? Vì như vậy, họ sẽ có thể nhận ra nghiên cứu tiên tiến của các giáo sư kỹ thuật của họ. Vì vậy, họ sẽ biết công nghệ nào để đánh cắp và đỡ mất thời giờ của họ. Vì vậy, họ đến học nhưng đã chuẩn bị rất kỹ càng.
Chúng ta cần hạn chế việc đi lại của những người Tàu Cộng được coi là di dân đang sống ở đất nước này và làm việc trong các ngành công nghiệp nhạy cảm. Tôi biết các ví dụ về những người nhập cư Tàu Cộng làm việc về phát triển phần mềm để truyền tin bảo mật dùng cho các lực lượng vũ trang của chúng ta trên chiến trường và họ về Trung Cộng mỗi năm. Họ đang làm việc trong các hoạt động mật, nhưng rồi chúng ta cho phép họ về Trung Cộng hàng năm. Quý vị nghĩ họ làm gì ở Tàu? Họ được MSS (Bộ Công An) thẩm vấn. Thật là ngoài sức tưởng tượng. Chúng ta phải cấm luật sư Mỹ công khai dạy các điệp viên Tàu Cộng cách lách luật kiểm soát xuất khẩu và các biện pháp an ninh công nghệ khác. Luật sư Mỹ làm điều này, và họ được trả rất nhiều tiền để dạy các điệp viên Trung Cộng cách làm điều đó.  Chúng ta cần một chiến dịch toàn quốc nâng cao ý thức của công chúng về mối đe dọa trên mạng. Hiện nay vấn đề này hãy còn là một điều đáng buồn.
Chúng ta cần tiến hành các hoạt động phản gián, có nghĩa là làm những việc sửa đổi các sơ đồ và thông số kỹ thuật để phát triển công nghệ cao, như vậy khi Trung Cộng lấy cắp tài liệu và kết hợp các tài liệu lại, họ sẽ lâm vào mê hồn trận..
Chúng ta cần khôi phục lực lượng vũ trang của chúng ta. Bắt đầu từ đâu? Một trong những vấn đề của chúng ta là chúng ta đã làm những gì Đức quốc xã đã làm. Họ luôn luôn có vũ khí chất lượng cao nhất, tiên tiến nhất. Nhưng chiến lược của Mỹ trong Thế chiến II là có những thứ chất lượng rất tốt, có thể không phải là tiên tiến nhất về máy bay, tàu thủy và xe tăng, v.v. nhưng vượt trội về số lượng. Tôi nghĩ rằng chúng ta cần thêm số lượng lớn hơn nhiều cho Hải quân của chúng ta, cho Không quân của chúng ta và cho tất cả các quân chủng của chúng ta.
Chúng ta cần phát triển vũ khí không gian. Chúng ta cần phát triển hệ thống phòng thủ cho các vệ tinh của mình. Chúng ta cần phát triển hệ thống phòng thủ cho các tên lửa siêu thanh cao. Để bảo vệ chống lại mối đe dọa của một cuộc tấn công bằng xung điện từ, chúng ta cần phải kiện toàn lưới điện của chúng ta mà, theo thuật ngữ chiến lược quốc gia, lưới điện của chúng ta hãy còn ‘bết’. Chúng ta cần phát triển máy bay có tầm bay xa hơn vì hàng không mẫu hạm rất dễ bị tấn công khi phải tới quá gần trong tầm bắn của tên lửa chống hạm của Trung Cộng. Chúng ta cần khôi phục cơ sở công nghiệp quốc phòng và chấm dứt sự phụ thuộc vào các nước ngoài để cung cấp đồ phụ tùng cho các hệ thống phòng thủ của chúng ta.
Chúng ta cần tăng cường các liên minh, đặc biệt là ở Đông Á. Chúng ta cần giúp đỡ Đài Loan, chúng ta cần đảm bảo rằng Đài Loan có được vũ khí nghiêm túc. Chúng ta cần phải sát cánh với Philippines và giữ cho Trung Cộng không ăn hiếp họ trong cuộc chiến pháp lý quốc tế với Trung Cộng về quyền sở hữu những mỏm đảo đá này. Tôi nghĩ rằng chúng ta cần suy nghĩ nghiêm túc về việc cho phép Hàn Quốc phát triển năng lực hạt nhân tới gần sát mức có thể có thể sản xuất võ khí hạt nhân, để nếu cần thiết bất ngờ, Hàn Quốc có thể có khả năng [sản xuất võ khí hạt nhân] trong vòng sáu tháng. Nhật Bản cũng vậy, tôi nghĩ Nhật Bản đã có khả năng đó.
Chúng ta cần khôi phục COCOM, Coordinating Committee on Multilateral Export Controls (Ủy ban Điều phối Kiểm soát Xuất khẩu Đa phương). Đây là một nỗ lực trên toàn liên minh, rộng khắp NATO (nhưng bao gồm cả Nhật Bản) để đảm bảo rằng một đồng minh không chơi xấu một đồng minh khác bằng cách bán các công nghệ cho Khối Xô Viết. Đó là một sự sắp xếp thành công đáng kể. Nó đòi hỏi rất nhiều nỗ lực hợp tác ngoại giao nghiêm túc.
Chúng ta cần thực hiện một chiến dịch thông tin toàn cầu để thông báo cho thế giới về các cách hành động của Trung Cộng. Sáng kiến Vành đai và Con đường của Trung Cộng có yếu tố gây bất ngờ khi triển khai tại nhiều quốc gia.. Những quốc gia này cần được hiểu rõ hơn về nó. Trung Cộng không xứng đáng với danh tiếng mà nó có ở nhiều nơi trên thế giới. Nhưng Trung Cộng đã rất nghiêm túc trong ngoại giao văn hóa và các hoạt động tuyên truyền và thông tin của họ. Chúng ta cần cảnh báo các nước khác trên thế giới, trước khi quá muộn.
Chúng ta cần phát triển chiến lược kinh tế của riêng mình, và đây phải là một chiến lược đối xử tương đồng. Theo quan điểm của tôi, điều này có nghĩa sự giải kết dần dần giữa hai nền kinh tế. Trung Cộng sẽ không thay đổi thói quen của họ. Họ sẽ tiếp tục làm những gì họ đang làm vì bản chất của họ là như vậy. Như tôi thích giải thích với các sinh viên của tôi, có hai loại động vật khác nhau trong rừng. Có những động vật ăn thịt và có những động vật ăn cỏ, ta không thể thay đổi một động vật ăn thịt để nó từ bỏ thói muốn ăn động vật ăn cỏ. Bản chất của chế độ Tàu Cộng là hành xử như nó đang làm, và rốt cục chúng ta phải nhận thức như vậy.
Chúng ta chưa thi hành luật chứng khoán của chúng ta. Chúng ta phải thực thi sự minh bạch trong tất cả các loại quan hệ thương mại mà chúng ta có với Tàu Cộng. Chúng ta không làm tốt công việc này, và đây là một lĩnh vực lớn mà những người khác đã viết. Gần đây nhất, tướng Rob Spalding có cuốn sách mới của ông, Stealth War, mà tôi đề nghị quý vị để ý tới. Đó là một phân tích tuyệt vời của một nhà yêu nước Mỹ đáng kính, người đã phục vụ đất nước này theo nhiều cách tuyệt vời khác nhau. Ông bàn về các yếu tố then chốt của chiến lược cần thiết.
Chúng ta cần khuyến khích các nguồn cung cấp khác nhau từ các quốc gia khác và từ chính đất nước chúng ta. Chúng ta phải giảm sự phụ thuộc vào Trung Cộng. Và dù thuế quan có hại như thế nào chăng nữa – tôi nhận rằng thuế có thể có hại – nhưng không có cách nào khác. Thuế quan là cần thiết và có hiệu quả khi được nhắm vào mục tiêu chiến lược, nếu chúng ta muốn khôi phục sự đối xử tương đồng trong quan hệ thương mại.
Còn có những điều tích cực chúng ta có thể làm. Có toàn bộ ý tưởng của Hiến chương Thái Bình Dương. Paul Berkowitz, một nhân viên kỳ cựu của Ủy ban Đối ngoại Hạ viện, cũng có mặt tại đây với chúng ta hôm nay. Paul, tôi xin tỏ lòng ngưỡng mộ bạn về công việc mà bạn đã làm trong lĩnh vực này trong nhiều năm. Khi Paul làm việc cho Nghị sĩ Ben Gilman, Chủ tịch Ủy ban, Quốc hội đã thông qua luật thành lập Ủy ban về Hiến chương Thái Bình Dương, đây là phiên bản mới của Hiến chương Đại Tây Dương. Hiến chương Thái Bình Dương liên quan đến việc hợp tác với các đồng minh của chúng ta để thúc đẩy dân chủ, pháp quyền, nhân quyền và hợp tác kinh tế khu vực ở châu Á-Thái Bình Dương và để nâng cao uy tín của sự lãnh đạo Hoa Kỳ trong khu vực. Tôi nghĩ rằng chúng ta phải bảo vệ cho các nguyên tắc của chúng ta.... Chúng ta vẫn còn đại diện cho những tư tưởng tuyệt vời. Dù người Mỹ đang đấu tranh chính trị kịch liệt trong nước, nhưng tôi nghĩ chúng ta vẫn tin vào luật pháp. Chúng ta vẫn tin vào các quyền bất khả nhân nhượng và phẩm giá của cá nhân con người. Tất cả những điều đó hoàn toàn không hợp với chế độ Tàu Cộng.
Đây là điều cuối cùng tôi muốn nói, đó có thể là một trong những điều quan trọng nhất nếu chúng ta thực sự muốn thắng Chiến tranh Lạnh với Trung Cộng. Đó là: chúng ta cũng phải bắt đầu tiến hành các chính sách Chiến tranh Lạnh, không chỉ thế thủ. Chúng ta cần phải có thế công. Chúng ta cần khôi phục tình trạng đối xử tương đồng trong mối quan hệ này. Trong chiến tranh, tấn công có nghĩa là tấn công trọng tâm của kẻ thù. Trọng tâm là yếu tố nếu không có nó thì địch không thể gây chiến, và không thể tồn tại được. Trọng tâm của Trung Cộng, và cũng là của Bắc Hàn, là gì? Ở Trung Cộng, Bắc Hàn và các chế độ tương tự, trọng tâm đó là hệ thống an ninh nội bộ của nhà nước...
Thực tế trung tâm của đời sống chính trị ở Trung Cộng và Bắc Hàn và các quốc gia chuyên chế khác là sự thiếu chính danh của chế độ; cai trị mà không có sự đồng ý người dưới quyền cai trị. Một chế độ không có chính danh thì có vấn đề an ninh nội bộ rất lớn. Chính quyền sợ chính người dân của mình, đó là yếu tố trung tâm của đời sống chính trị. Chính quyền sợ bất cứ điều gì có thể kích động người dân chống lại họ và thậm chí có thể lật đổ họ. Đó là lý do tại sao Trung Cộng sợ sự thật, tại sao họ phải kiểm soát tất cả thông tin và truyền thông, tại sao phải phá chương trình phát sóng nước ngoài, tại sao phải cấm tự do thông tin. Tất nhiên, hệ thống an ninh nội bộ có đội ngũ mật báo viên, Lao Cải – quần đảo Gulag của Trung Cộng – mà không ai biết, bởi vì báo New York Times và The Washington Post không bao giờ in chữ Lao Cải trên trang báo của họ. Bạn nên biết nó là gì. Tôi nhắc lại: Lao Cải là Quần đảo Gulag của Trung Cộng: lao động nô lệ và trừng phạt tù nhân lương tâm, các học viên Pháp Luân Công, tín đồ Kitô, Hồi giáo và các nhà bất đồng chính kiến.
Cộng sản Tàu là một bộ máy vi phạm nhân quyền khổng lồ. Và điều này là do chế độ sợ chính người dân của mình.
Một trong những nguyên tắc chiến lược hợp lý nhất là ta phải biết ai là đồng minh của mình. Theo quan điểm của tôi, các đồng minh lớn nhất của chúng ta trong tất cả các vấn đề này, các đồng minh tiềm tàng của chúng ta là người Tàu: những người có nhân quyền đang bị xâm phạm, những người không thuộc tầng lớp đặc quyền đặc lợi gồm những đại gia đang làm giàu và hưởng sự bao che của Đảng.
Họ là những đồng minh của chúng ta. Hàng năm có khoảng hơn 70.000 vụ xáo trộn dân sự ở Trung Cộng. Có những cuộc biểu tình, bạo loạn, bất cứ loại xáo trộn nào, thường là phản đối tham nhũng của Đảng Cộng sản địa phương. Dân chúng có biết về cũng có những xáo trộn khác không? Không. Bởi vì cách thức hoạt động của chế độ Cộng sản là khi có sự xáo trộn dân sự ở một số khu vực nhất định, chế độ sẽ cắt đứt mọi liên lạc đến địa phương đó… Và chỉ sau đó, khi các liên lạc bị cắt đứt, họ mới đi vào và nghiền nát tất cả mọi thứ. Vì vậy, nếu những người khác rốt cục biết rằng có một cuộc biểu tình, hoặc một cuộc đình công, hoặc một cuộc bạo loạn, hoặc một cái gì đó tương tự, thì thông điệp thực sự là nó đã bị nghiền nát, và do đó, chỉ cố gắng làm điều gì tương tự như vậy một lần nữa cũng là vô ích.
Toàn bộ chiến lược tâm lý của hệ thống an ninh nội bộ của Nhà nước Trung Cộng là đưa người dân vào tình trạng cam chịu. Để mọi người tin rằng kháng cự chống lại chế độ này là uổng công vô ích. Một khi họ chịu thua điều này, nó sẽ dẫn đến sự nguyên tử hóa của xã hội. Đó là gì? Đó là khi tách từng cá nhân khỏi mọi người khác. Cá nhân đơn độc chống lại nhà nước độc đảng toàn quyền... Thực hiện điều đó như thế nào? Bằng một hệ thống chỉ điểm viên bí mật khắp mọi nơi. Tôi không biết có bao nhiêu chỉ điểm viên bí mật ở Trung Cộng, nhưng ở Đông Đức – người Đức vẫn có thói quen làm thống kê tốt – nó chiếm tới 30% dân số, ba mươi phần trăm! Điều đó có nghĩa là ai đó trong gia đình bạn là người cung cấp thông tin, nhưng bạn không biết điều đó. Người ấy không thể nói với bạn. Và họ sẽ kiểm tra bạn. Anh ta có thể không muốn trở thành một người cung cấp thông tin. Anh ta có thể đã bị ép buộc phải làm. Họ sẽ kiểm tra xem anh ta có thông báo gì không bằng cách cho người phạm tội kinh tế, hoặc làm một cái gì khác ngay trước mắt anh ta. Và sau đó, nếu anh ta không báo cáo thì anh ta sẽ bị trừng phạt. Không khí ngờ vực tràn ngập khắp nơi: khi tình trạng thực sự trở nên tồi tệ, thậm chí bạn cũng không tin ngay cả người trong chính gia đình bạn.
 Thêm vào đó lại có ý thức hệ làm nhịp trống cho những người lính diễu hành. Nó đặt tiêu chuẩn để đo độ lệch lạc.Đó là tiêu chuẩn đo sự tuân thủ. Đó là sự đúng đắn về chính trị, nó định nghĩa thế nào là đúng đắn chính trị. Mọi người phải đi theo nhịp trống đó, nếu không, bạn có thể bị trung sĩ lôi ra khỏi đội hình và bị kỷ luật. Vì vậy, tất cả được củng cố và tất cả được thu về một mối dưới sự độc quyền về thông tin và truyền thông này.
 Nhiệm vụ chiến lược của chúng ta là phá vỡ sự độc quyền đó. Điều đó có nghĩa là giúp người dân Tàu giao tiếp với nhau, giao tiếp với họ trên quy mô lớn. Đó là lý do tại sao khi Suzanne giới thiệu tôi và nói về Radio Free Europe, Radio Liberty, đây là chiến lược mà chúng ta đã sử dụng. Chúng ta đã làm rất nhiều thứ trong lĩnh vực vật chất: chúng ta không cho Liên Xô dùng tiền tệ của chúng ta, không cho dùng công nghệ. Chúng ta đã làm các hoạt động phản gián. Chúng ta đã xây dựng quân đội của chúng ta. Chúng ta gây áp lực cho họ. Chúng ta đã phát triển SDI[3]. Đó là hành động răn đe khả năng tấn công trước  nhắm vào phi đạn SS-18 ICBM của họ. Chúng ta đã làm tất cả những điều này. Chúng ta đã giúp kháng chiến chống cộng ở Afghanistan, Nam Phi và Trung Mỹ.
 Nhưng đó đều là những biện pháp vật chất. Và không có gì trong số những biện pháp vật chất đó giải thích tại sao một triệu người xuống đường ở Moscow, khi họ biết rõ rằng họ có thể bị bắt, bị tra tấn, đưa đi cải tạo. Thế mà họ đã có can đảm để làm điều đó. Chính ngoại giao quần chúng của chúng ta đã giúp cho họ can đảm như vậy. Chúng ta đã liên lạc với họ. Chúng ta thông cảm với họ. Chúng ta đã đứng ra bênh vực quyền con người của họ. “Các bạn bị áp bức dưới chế độ này không đơn độc! Chúng tôi sẽ không gửi quân đội của chúng tôi tới, nhưng chúng tôi đứng sau bạn và chúng tôi nghĩ rằng có thể thay đổi, nhưng quyết định là của các bạn”. Quyết định phải làm gì ở Hồng Kông ở trong tay người dân Hồng Kông. Những gì chúng ta đang thấy bây giờ hoàn toàn là một màn biểu lộ tuyệt vời về sự phản kháng của công chúng đối với chế độ toàn trị. Tôi không biết chế độ sẽ xử sự như thế nào… Nhưng đừng đánh giá thấp sức mạnh của lòng súng.  Chúng ta cần bắt đầu phát sóng trên một quy mô rất lớn, nhiều giờ hơn một ngày, nhiều băng tần hơn. Chúng ta đã bỏ nhiều băng tần của chúng ta. Chúng ta đã ngưng nhiều chương trình phát thanh lớn của chúng ta tại Đài tiếng nói Hoa Kỳ. Chính quyền trước đã định đóng cửa các chương trình bằng tiếng Quan Thoại và tiếng Quảng Đông. Nếu không có một số người anh dũng từ VOA đứng ra phản đối thì chương trình đó đã bị chấm dứt. Mọi người đều ủng hộ dùng Internet.. Nhưng ở Trung Cộng có nhiều cảnh sát Internet hơn binh sĩ Quân đội Giải phóng Nhân dân. Bạn không thể dấu tên khi lướt Internet nhưng bạn có thể dấu tên khi nghe đài.
 Nhưng còn có những kỹ thuật mới nữa. Có DRM, Digital Radio Mondiale[4]. Kỹ thuật này khai thác cuộc cách mạng kỹ thuật số để áp dụng vào ngành truyền thanh quốc tế bằng sóng ngắn.  Nói như vậy cũng chưa đúng, xin nói thêm  không chỉ bằng sóng ngắn, không chỉ bằng TV, không chỉ bằng Internet, không phải chỉ dùng mỗi loại phương tiện riêng rẽ, mà cuộc tấn công chống lại trung tâm quyền lực này phải là bằng kỹ thuật đa phương tiện (Multimedia). Có phương tiện nào dùng phương tiện đó. Ở Bắc Hàn, người ta bỏ những chiếc USB nhỏ vào một cái chai, trong chai có một bó gạo. Thả những chai này xuống sông. Những người Bắc Hàn đói tìm thấy cái chai, họ có một ít gạo và họ đã có một nguồn thông tin khác
[nguồn tin của chính quyền]
. Mọi phương pháp đều có thể dùng.
 Trước đây chúng ta thường gửi máy fax, máy copy (sao chép), máy mimeograph (máy in rô-nê-ô). Thậm chí có nhiều người còn không biết máy mimeograph (máy in rô-nê-ô) là gì. Đó là máy in bài kiểm tra của chúng tôi khi còn ở trường tiểu học. Đặt một tờ giấy lên máy, quay cái cần quay máy, nó là một cái máy cơ khí in bản sao mà không cần máy photocopy. Chúng ta đã gửi hàng chục máy rô-nê-ô vào sau Bức Màn sắt. Chúng ta gửi cả giấy nữa, vì nhà nước nắm độc quyền về giấy. Trước kia ở Liên Xô, mọi máy photocopy đều có người canh có võ trang. Dùng mọi phương pháp, mọi phương tiện. DRM là một phương tiện. Xin nói thêm, DRM sẽ không chỉ truyền tiếng nói, nó còn gửi văn bản nữa.  Nó còn có thể gửi video, nhưng tôi đã được một số chuyên gia kỹ thuật cho biết rằng trên thực tế, chúng ta không có bandwidth  (băng thông) để gửi video. Nhưng có thể xem video mà không bị lộ tên. Vâng, cần phải có máy thu DRM. Vậy thì làm máy thu DRM. Máy thu DRM rẻ hơn rất nhiều so với máy bay chiến đấu. Có thể làm hàng triệu máy và gửi lan tràn khắp thế giới.
 Còn có các vệ tinh phát sóng, và hình như có một số loại mới vệ tinh nhỏ như một cục pin có thể phát sóng, và ta có thể đưa hàng ngàn vệ tinh loại đó lên trời phát trực tiếp xuống các chế độ toàn trị. Chúng ta cần phải có chiến tranh thông tin toàn diện. Bởi vì họ đang tiến hành chiến tranh thông tin toàn diện chống chúng ta; họ đang nhào nặn nhận thức của chúng ta. Họ đang kiểm soát thông tin của chúng ta. Họ đang khiến chúng ta phải tự kiểm duyệt. Chúng ta đang mất tự do, và chúng ta không làm gì để thực sự chống lại ở cấp chiến lược quốc gia. Chúng ta phải ngưng việc quá coi trọng văn hóa thiên về vật chất trong chính sách đối ngoại. Người Nga hiểu điều này, người Tàu hiểu điều này. Người Nga nói rằng chiến thắng trong chiến tranh thông tin có thể mạnh hơn chiến thắng quân sự kinh điển. Nhận định đó xuất phát từ tham mưu trưởng Nga. Chính tham mưu trưởng Nga – một chiến binh động năng – lại nói rằng một cuộc chiến thông tin có thể tạo ra một chiến thắng tàn khốc hơn. Tôi có thể nói lâu hơn một chút nữa, nhưng tôi đã nói lâu quá thời hạn quy định.
 Cám ơn quý vị.
John Lenczowski